Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1439/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 tháng 7 năm 2024

V/v “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Phủ
  2. Ông Trần Hưng

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tường Phúc, cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc H - Kiểm sát viên

Vào ngày 23/7/2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 2233/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023, về việc tranh chấp “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 326/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 247/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Võ Yến N, sinh năm 1997 - Có đơn xin vắng mặt

Địa chỉ: A T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1989 - Vắng mặt

Địa chỉ: 6 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 11 năm 2023, bản tự khai và tại biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Võ Yến N trình bày như sau:

Bà N và ông D đăng ký kết hôn ngày 20 tháng 01 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quá trình chung sống có 01 con chung tên: Nguyễn Hoàng Lâm sinh ngày 12/3/2020.

Tháng 07/2019, Bà N mang thai cháu L. Trong khoảng thời gian bà mang bầu, ông D thường xuyên lấy tiền, vàng cưới đem bán để đi chơi, nhậu nhẹt, không quan tâm lo lắng đến gia đình, chăm sóc vợ con. Đến tháng 03/2020, bà N sinh cháu L, ông D vẫn không thay đổi tính cách, không quan tâm gì đến vợ và con nhỏ. Khoảng thời gian này ông D không có công việc ổn định, không chu cấp hay chăm sóc cho vợ con mà chỉ tập trung đi chơi bời rồi gây ra nợ nần. Khi không có tiền, ông D và bà thường xuyên to tiếng cãi nhau, ông D chửi bà khiến tinh thần bà bị ảnh hưởng nặng nề sau sinh. Bà N bị stress khá nặng, đi khám bác sĩ cảnh báo bà có nguy cơ đột quỵ cao do quá căng thẳng. Sau đó bà quyết định dọn về nhà mẹ đẻ, không sống chung với ông D đến thời điểm hiện tại.

Từ thời điểm sinh cháu, bà N ở hoàn toàn bên nhà ngoại, cháu L do một tay ông bà ngoại chăm sóc và nuôi dưỡng giúp bà để bà tập trung đi làm để trả nợ cho ông D, ông bà nội và bản thân anh D là ba của bé nhưng không hỏi han hay thăm nom gì. Khoảng thời gian dịch bùng phát, công việc của bà N khó khăn nên mới đề xuất bên gia đình ông D chu cấp thì chị của ông D gửi sữa, tã hàng tuần/lần sang nhà bố mẹ bà N cho cháu. Cháu L được 18 tháng, chị gái của ông D tự tính và quy đổi chu cấp tiền sữa thành 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng)/tháng, 2 tuần chuyển khoản 1 lần.

Tháng 12/2020, ông D bị Công an quận P bắt và truy tố về tội tàng trữ ma túy và bị chấp hành án tù 12 tháng. Tháng 12/2021, ông D được toại ngoại, ông D không thay đổi gì về cách đối xử với vợ con, bà và ông D thường xuyên cãi nhau về tiền bạc vì ông D không có việc làm, không phụ tôi kiếm tiền nuôi con mà chỉ lo chơi bời và đi theo con đường cũ, thậm chí tiền chu cấp mua sữa của con ông D cũng lấy để trả nợ, ăn chơi.

Bà nhận thấy trong quá trình chung sống giữa bà và ông D không thể hòa hợp, phát sinh nhiều mâu thuẫn không giải quyết được nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, ảnh hưởng đến tâm sinh lý của bà và nhân cách của con trai sau này. Hiện tại, bà muốn tập trung làm việc kiếm tiền và nuôi dưỡng con trai nên người.

Tháng 12/2023, bà có nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh và đã được thụ lý, đang chờ giải quyết. Trong khoảng thời gian này, ông D luôn gây áp lực cho bà, làm trầm trọng thêm mối quan hệ giữa ông D với bà và con chung, ông D dùng lời nói khó nghe để xúc phạm bà.

Trong thời gian không còn sống chung, ông D vẫn cấp dưỡng tiền học, tiền sữa để nuôi con chung, nhưng đỉnh điểm từ tháng 02/2024, ông D không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, làm ảnh hưởng đến việc sinh hoạt và giáo dục của con chung.

Vì vậy, bà N đề nghị Tòa án xem xét và sớm giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là: Cháu Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 12/3/2020.

Sau khi ly hôn, bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hoàng L1.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con với số tiền là: 4.000.000 đồng/tháng, chuyển khoản cho bà 1 lần từ ngày 1 đến ngày 5 hàng tháng, vì chi phí cho con gồm tiền học mỗi tháng từ 1.250.000 đồng đến 1.600.000 đồng/tháng, tiền sữa 1.500.000 đồng, tiền chi phí mua tã 500.000 đồng, tiền ăn 1.500.000 đồng/tháng, tiền chi phí khám bệnh, vui chơi từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng/tháng.

Bà sẽ cố gắng tạo điều kiện cho ông D và gia đình ông D được thăm nom con.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Võ Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Võ Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng D-vắng mặt:

Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để lấy lời khai để giải quyết vụ án ly hôn, giấy triệu tập tham gia phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Hoàng D không tham gia tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Tại phiên tòa

Tại đơn xin vắng mặt, nguyên đơn bà Nguyễn Võ Yến N vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con tên: Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 12/3/2020.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà yêu cầu hàng tháng ông D cấp dưỡng 01 con số tiền 4.000.000 đồng

3. Phần tranh luận

Không có

4. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

Thể hiện đầy đủ tại bài phát biểu ngày 23/7/2024.

Về giải quyết và xét xử vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của pháp luật về tố tụng. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Võ Yến N được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hoàng D. Về con chung: Chấp nhận giao cho bà N trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung: Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 12/3/2020; Về cấp dưỡng nuôi con: Hàng tháng ông D cấp dưỡng nuôi con số tiền 4.000.000 đồng. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Võ Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà Nguyễn Võ Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí bà N chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Võ Yến N và ông Nguyễn Hoàng D là quan hệ hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý đơn khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn Hoàng D có địa chỉ tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

[2]. Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai bị đơn ông Nguyễn Hoàng D nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Hoàng D.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 nguyên đơn bà Nguyễn Võ Yến N, có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[3]. Về yêu cầu của đương sự:

[3.1]. Về yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Võ Yến N, Hội đồng xét xử xét:

-Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 15 do Ủy ban Nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20 tháng 01 năm 2020 thể hiện hôn nhân giữa bà Nguyễn Võ Yến N và ông Nguyễn Hoàng D là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo bà N trình bày thì bà và ông D ly thân từ tháng 3/2020, vụ án thụ lý từ tháng 12/2023 đến nay là khoảng thời gian dài để bà N, ông D suy nghĩ, cân nhắc về tranh chấp ly hôn. Nhưng từ đó đến nay bà N, ông D cũng không có những hành động thiết thực và cụ thể thể hiện sự cố gắng hòa giải đoàn tụ. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập ông D đến Tòa 02 lần để tham gia phiên hòa giải, 02 lần để tham gia xét xử, nhưng ông D đều vắng mặt, điều này thể hiện mong muốn hòa giải đoàn tụ gia đình của ông D không nhiều, không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với bà N. Mặc khác, bà N vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu được ly hôn và khẳng định không còn tình cảm với ông D.

Nhận thấy, hôn nhân hạnh phúc phải do sự tự nguyện cùng vun đắp và xây dựng từ hai phía, từ tháng 3 năm 2020 đến nay bà N và ông D đã ly thân, mạnh ai nấy sống, không ai quan đến ai, điều này cho thấy quan hệ hôn nhân của bà N và ông D đã không còn hạnh phúc, mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và đến nay không thể hàn gắn tình cảm.

Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về: Ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được..”

Từ những phân tích và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Cuộc sống chung giữa bà N và ông D đã không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân xây dựng một gia đình hạnh phúc không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà N là có cơ sở để chấp nhận.

[3.2].Về con chung: Hiện nay 01 trẻ : Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 12/3/2020, đang sinh sống và học tập cùng bà Nguyễn Võ Yến N, để thuận tiện cho việc sinh sống và học tập ổn định của trẻ, phù hợp với nguyện vọng của trẻ và bà N không có ý kiến phản đối gì, nên Hội đồng xét xử xét thấy giao 01 trẻ Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 12/3/2020 cho bà N trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

[3.3].Về cấp dưỡng nuôi con:

Hội đồng xét xử, ghi nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà N đối với ông D. Hàng tháng ông D cấp dưỡng 01 con số tiền 4.000.000 đồng. Bắt đầu thi hành từ tháng 00/2024. Cấp lần lượt cho đến khi trẻ đến tuổi trưởng thành. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[3.4]. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Võ Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.5]. Về nợ chung: Bà Nguyễn Võ Yến N không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.6]. Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Nguyễn Hoàng D đến tòa để cung cấp tài liệu chứng cứ cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hoàng D không đến tòa trình bày ý kiến, không tham gia phiên hòa giải là tự mình từ bỏ quyền chứng minh trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4]. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án; thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu của nguyên đơn. Do đó, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Ly hôn là 300.000 đồng. Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng ông Nguyễn Hoàng D phải nộp.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 203; Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ Luật Tố Tụng dân sự;

- Áp dụng Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Võ Yến N.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Võ Yến N được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D.

1.2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Võ Yến N trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục 01 trẻ: Nguyễn Hoàng L1, sinh ngày 12/3/2020.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Hàng tháng ông D cấp dưỡng 01 con số tiền 4.000.000 đồng. Bắt đầu thi hành từ tháng 08/2024. Cấp lần lượt cho đến khi trẻ đến tuổi trưởng thành.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ông D được quyền đến thăm nuôi, chăm sóc, giáo dục con. Vì quyền lợi của con khi cần thiết đôi bên được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc tiền cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bà N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông D chưa thi hành việc cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng ông D còn chịu trả thêm cho bà N số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí: Án phí Ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Võ Yến N phải nộp, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà nguyên đơn đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0029054 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.

Án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng ông Nguyễn Hoàng D phải nộp.

3. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Võ Yến N và ông Nguyễn Hoàng D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q.Bình Thạnh
  • - THA Dân sự Q.Bình Thạnh
  • - Các đương sự
  • - Lưu VP, hồ sơ...

TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1439/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 1439/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Võ Yến N được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger