TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1431/2023/KDTM-ST
Ngày: 18-8-2023
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hễ
Ông Nguyễn Thành Thông
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lê Thị Kim Thuỷ – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 15 và 18-8-2023, tại phòng xử án của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 159/2022/TLST-KDTM ngày 07-11-2022, về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2611/2023/QĐXX-KDTMST ngày 30-6-2023; Quyết định hoãn phiên toà số 8644/2023/QÐST-KDTM ngày 19-7-2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 9774/2023/QÐST-KDTM ngày 15-8-2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ocean T2, LLC
Địa chỉ: C C, S, Hilton H, South C, Hoa Kỳ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Minh T, sinh năm 1995; địa chỉ: Tầng A, số A N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 20230619/HĐUQ ngày 19-6-2023) (có mặt)
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ
Địa chỉ: Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Tạ Thị Thanh T1, sinh năm 1971, địa chỉ: ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; là người đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của, nguyên đơn trình bày:
Ngày 11-7-2020, Ocean T2, LLC và Công ty Cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là Công ty Đ) đã ký kết Hợp đồng mua bán số SUP20200711-101 (“Hợp Đồng”); theo đó, Công ty Đ đồng ý bán và Ocean T2, LLC đồng ý mua 100.000 hộp găng tay y tế disposable powder-free nitrile examination (màu xanh dương) với tổng giá trị lô hàng là 760.000 USD.
Theo Điều 3 của Hợp Đồng: “Hàng hoá trong hợp đồng này được thanh toán bằng đô la Mỹ hoặc Việt Nam đồng; người mua trả 10% tổng giá trị lô hàng được xem như là tiền đặt cọc bằng phương thức chuyển khoản; Người bán hỗ trợ người mua sắp xếp việc kiểm tra SGS bằng chi phí của người mua trong vòng 03 ngày kể từ ngày nhận được tiền đặt cọc của người mua; Người mua trả 40% tổng giá trị lô hàng sau khi chấp thuận báo cáo SGS; Người bán sắp xếp giao hàng hóa trong vòng 03 ngày sau khi nhận được 40% tiền thanh toán từ người mua; Khi người mua nhận vận đơn giao hàng, người mua thanh toán giá trị còn lại là 50% tổng số tiền. Sau khi nhận đủ tiền hàng, quyền sở hữu hàng hóa được chuyển giao từ người bán sang người mua.”
Ngày 13-7-2020, Ocean T2, LLC đã hoàn tất thanh toán 383.000,00 USD cho Công ty Đ theo Xác nhận chuyển khoản số 20200713-00010169. Ngày 14-7-2020, Công ty Đ đã nhận được số tiền 382.847,00 USD theo Giấy báo có số 17 ngày 15-7-2020 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1. Theo đó, Ocean T2, LLC đã hoàn tất thanh toán hơn 50% giá trị hợp đồng, căn cứ vào Điều 3 của Hợp đồng, Công ty Đ có nghĩa vụ sắp xếp giao hàng trong vòng 03 ngày kể từ ngày Công ty Đ nhận được khoản thanh toán từ O, LLC vào ngày 14-7-2020, tức Công ty Đ có nghĩa vụ giao hàng cho Ocean T2, LLC không muộn hơn ngày 17-7-2020. Tuy nhiên, Công ty Đ đã không thực hiện việc giao hàng theo đúng thời hạn đã thỏa thuận.
Ngày 09-10-2020, Ocean T2, LLC gửi thông báo hủy bỏ toàn bộ Hợp đồng đến Công ty Đ bằng văn bản vì lý do Công ty Đ không giao hàng trong thời hạn thỏa thuận và Ocean T2, LLC; yêu cầu Công ty Đ hoàn trả toàn bộ số tiền 382.847,00 USD không muộn hơn ngày 16-10-2020. Tuy nhiên, đến hết ngày 16-10-2020, Công ty Đ không hoàn trả toàn bộ số tiền như được yêu cầu cũng như không đưa ra bất kỳ phương án hoàn trả tiền nào.
Theo Biên bản cuộc họp ngày 26-11-2020, Công ty Đ cam kết hoàn trả cho Ocean T2, LLC toàn bộ số tiền 382.847,00 USD không muộn hơn ngày 26-12-2020. Tuy nhiên đến nay, Công ty Đ vẫn chưa hoàn trả tiền cho Ocean T2, LLC như cam kết.
Vì vậy, Ocean T2, LLC khởi kiện yêu cầu Công ty Đ hoàn trả cho Ocean T2, LLC toàn bộ số tiền Ocean T2, LLC đã thanh toán là 382.847,00 USD, tương đương 8.830.748.902 đồng (theo tỷ giá 1 USD = 23.066 VNĐ do Ngân hàng N công bố ngày 02-6-2022); thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 27-12-2020 tạm tính đến ngày 02-6-2022 (tương đương 523 ngày) là 8.830.748.902 đồng x (20%/365) x 523 ngày = 2.530.647.890,82 đồng. Tổng số tiền Ocean T2, LLC yêu cầu Công ty Đ thanh toán (tạm tính đến ngày 02-6-2022) là 11.361.423.792,8 đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn Công ty Đ hoàn trả cho Ocean T2, LLC toàn bộ số tiền Ocean T2, LLC đã thanh toán là 382.847,00 USD, tương đương 9.167.654.262 đồng (theo tỷ giá 1 USD = 23.946 VNĐ do Ngân hàng N công bố ngày 18-8-2023); và thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 27-12-2020 đến khi thanh toán hết nợ, tạm tính đến ngày 18-8-2023 (tương đương 965 ngày) là 382.847,00 USD đồng x (12,25%/365) x 965 ngày = 123.993 USD, tương đương 2.969.136.378 đồng. Tổng số tiền Ocean T2, LLC yêu cầu Công ty Đ thanh toán (tạm tính đến ngày 18-8-2023) là 12.136.790.640 đồng. Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn nợ gốc 382.847,00 USD, tương đương 9.167.654.262 đồng, lãi 123.993 USD, tương đương 2.969.136.378 đồng. Trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của đương sự, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ocean T2, LLC khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty Đ thanh toán tiền nợ gốc, lãi phát sinh từ Hợp đồng mua bán số SUP20200711-101, đây là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Nguyên đơn là pháp nhân nước ngoài có địa chỉ trụ sở tại H chủng quốc Hoa Kỳ; Bị đơn có trụ sở tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về xác định địa chỉ của bị đơn: Căn cứ Phiếu cung cấp thông tin doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H thể hiện: Công ty Cổ phần Đ có địa chỉ trụ sở tại 1 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật là bà Tạ Thị Thanh T1; Công ty chưa đăng ký giải thể; Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Toà triệu tập hợp lệ nên Toà tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và trình bày của đương sự có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có ký kết Hợp đồng mua bán số SUP20200711-101 ngày 11-7-2020; theo đó, bị đơn bán cho nguyên đơn 100.000 hộp găng tay y tế disposable powder-free nitrile examination (màu xanh dương) với tổng giá trị lô hàng là 760.000 USD. Nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn 383.000,00 USD vào ngày 13-7-2020 theo Biên nhận chuyển tiền đến người nhận có số tham chiếu 20200713-00010169. Bị đơn đã nhận được 382.847,00 USD theo Giấy báo có số 17 ngày 15-7-2020 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1. Đồng thời, tại Biên bản cuộc họp ngày 26-11-2020, bà Tạ Thị Thanh T1 - đại diện pháp luật của bị đơn xác nhận “Ngày 14 tháng 7 năm 2020, Công ty Đ nhận khoản tiền 383.000 USD... Chị T1 đề xuất chuyển trả Ocean T2 trong vòng 30 ngày” nhưng đến nay bị đơn không thực hiện việc thanh toán tiền cho nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 382.847 USD, tương đương 9.167.654.262 đồng (theo tỷ giá 1 USD = 23.946 đồng được công bố bởi Ngân hàng N vào ngày 18-8-2023) là có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền lãi chậm thanh toán tạm tính từ ngày 27-12-2020 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 12,25%/ năm là 2.969.136.378 đồng. Theo Biên bản họp ngày 26-11-2020, bị đơn đã đề xuất trả lại tiền hàng cho nguyên đơn trong vòng 30 ngày, tuy nhiên đến nay bị đơn vẫn chưa thanh toán cho nguyên đơn. Xét thấy các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất chậm thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 là có cơ sở.
[5] Căn cứ Văn bản số 1097/NHNoTTSG-PC ngày 14-8-2023 của Ngân hàng N1 – Chi nhánh T3, Văn bản số 656/CNTPHCM-TH ngày 14-02-2023 của Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh Thành phố H và Văn bản số 7448/HCM.TH ngày 18-7-2023 của Ngân hàng TMCP N2 – Chi nhánh Thành phố H thì lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường đối với khoản vay trung dài hạn bằng ngoại tệ Đô la Mỹ là 12,25%/ năm. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lãi tính từ ngày 27-12-2020 đến ngày 18-8-2023 là: 382.847,00 USD x (12,25%/365) x 965 ngày =123,993 USD, tương đương 2.969.136.378 đồng (theo tỷ giá 1 USD = 23.946 đồng được công bố bởi Ngân hàng N vào ngày 18-8-2023).
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ocean T2, LLC.
[7] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 306 Luật Thương mại 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ocean T2, LLC.
- Buộc Công ty Cổ phần Đ thanh toán cho Ocean T2, LLC số tiền tính đến ngày 18-8-2023 là 506.840 (năm trăm lẻ sáu ngàn, tám trăm bốn mươi) USD, tương đương 12.136.790.640 (mười hai tỷ, một trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi ngàn, sáu trăm bốn mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 382.847 (ba trăm tám mươi hai ngàn, tám trăm bốn mươi bảy) USD, tương đương 9.167.654.262 (chín tỷ, một trăm sáu mươi bảy triệu, sáu trăm năm mươi bốn ngàn, hai trăm sáu mươi hai) đồng; lãi chậm thanh toán tính đến ngày 18-8-2023 là 123.993 (một trăm hai mươi ba ngàn, chín trăm chín mươi ba) USD, tương đương 2.969.136.378 (hai tỷ, chín trăm sáu mươi chín triệu, một trăm ba mươi sáu ngàn, ba trăm bảy mươi tám) đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định theo Điều 306 Luật Thương mại.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí sơ thẩm là 120.136.791 (một trăm hai mươi triệu, một trăm ba mươi sáu ngàn, bảy trăm chín mươi mốt) đồng.
Ocean T2, LLC không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại cho Ocean T2, LLC số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.680.712 (năm mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi ngàn, bảy trăm mười hai) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0001299 ngày 02-11-2022 của Cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Quỳnh Trâm |
Bản án số 1431/2023/KDTM-ST ngày 18/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 1431/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ocean T2, LLC.
