|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN Số: 143/2024/HS-ST Ngày: 31-10-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Yến Nhi
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang và ông Lữ Duy Minh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến –
Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Ông
Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở TAND thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 137/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HS ngày 16/10/2024 đối với các bị cáo:
1. HOÀNG ANH TUẤN – Tên gọi khác: K, sinh năm: 1997 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng S, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1978; Vợ: Phạm Ngọc Đan Q, sinh năm 1997; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã L (Có mặt tại phiên tòa).
2. NGUYỄN THỊ T HOA – Tên gọi khác: S1, sinh năm: 1993 tại Bình Thuận; Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Khu phố D, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Thu P, sinh năm 1965; C sống như vợ chồng với Đặng Ngọc P1, sinh năm 1988, có 01 con, sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã L (Có mặt tại phiên tòa).
2. PHAN HỮU TÀI – Tên gọi khác: Đ, sinh năm: 2005 tại Bình Định; Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Hữu D, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1972; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/6/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thị xã L (Có mặt tại phiên tòa).
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Đinh Nguyễn Tú A, sinh năm 2003. Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
2/ Hồ Trần Bảo D1, sinh năm 2002. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Khu phố D, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào rạng sáng ngày 05/6/2024, Nguyễn Thị Thu H, đến thuê phòng G9 của khách sạn N thuộc khu phố C, phường T, L để ngủ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Hoàng Anh T2 đến phòng G9 để gặp H. Tại đây, T2 rủ H sử dụng ma tuý đá thì H đồng ý và nói là không có ma tuý nên T2 đưa cho H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng để H mua ma tuý đá sử dụng; lúc này, H nhắn tin cho Phan Hữu T3, để nhờ T3 đi mua ma tuý thì T3 đồng ý. T3 điều khiển xe mô tô chạy đến trước khách sạn N gặp H lấy 200.000 đồng, sau đó điều khiển xe mô tô chạy đến đường hẻm bên hông quán K1, thuộc phường T, thị xã L gặp và mua của một đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) 01 bịch ma tuý đá với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T3 quay lại phòng G9 của khách sạn N; T3 hỏi H là bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đâu thì H nói trong tủ lạnh, T3 đi đến mở tủ lạnh lấy bộ dụng cụ đổ ma tuý vào trong nỏ thuỷ tinh, T3 dùng bật lửa đốt, nấu ma tuý để mọi người cùng sử dụng. Sau khi nấu ma tuý xong, T3, T2, H cùng lấy ma tuý sử dụng được khoảng 01 tiếng đồng hồ thì nghỉ, T3 tháo lấy ống thuỷ tinh bên trong vẫn còn ma tuý chưa sử dụng hết đem về nhà mình cất giấu. Đến đầu giờ chiều cùng ngày, T2 gặp và hỏi H là ma tuý lúc trưa sử dụng ở khách sạn N còn không, H liên hệ với T3 thì T4 nói vẫn còn. Do vậy, T2 rủ H đến quán C1, thuộc khu phố C, phường T, thị xã L để sử dụng ma tuý tiếp (số ma túy còn lại trong nỏ mà T3 đang giữ) thì H đồng ý, H nhắn tin cho T3 đem ma tuý tới quán C1 để sử dụng tiếp đồng thời, H nhắn tin rủ Đinh Nguyễn Tú A đến quán C1 uống nước. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T3 đến quán C1; lúc này có mặt T2, H, Tú A, T3 lấy ống thuỷ tinh bên trong có chứa ma tuý mà T3, T2 và H sử dụng chưa hết ở khách sạn N gắn vào chai nước Number 1 để cho mọi người sử dụng. Khi ma tuý trong nỏ thuỷ tinh hết, H nhắn tin rủ Hồ Trần Bảo D1, đến chơi và kêu T3 điều khiển xe mô tô tới bên hông nhà thờ T7 thuộc phường T, thị xã L để đón D1. Khi T3 đón D1 tới quán C1 thì T3 cầm trên tay 01 tép ma tuý đá, T3 hỏi mượn cái kéo của H cắt tép ma tuý ra đổ vào trong nỏ, để trên bàn. Sau đó, T2, H, Tú A, D1 và T3 cùng sử dụng số ma túy trên. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, trong lúc T2, H, Tú A, D1 và T3 đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Cơ quan CSĐT Công an thị xã L phát hiện, bắt quả tang. Lúc này, T5 cầm ống thủy tinh dụng cụ mà cả nhóm dùng sử dụng ma túy đang để trên bàn quăng ra ngoài khoảng 1,5m thì ống thủy tinh bị gãy nhưng bị cơ quan công an phát hiện, thu giữ. Vật chứng thu giữ tại quán Vườn gió gồm:
- 01 (một) ống thủy tinh cong một đầu có hình bầu tròn bên trong chứa chất dạng rắn, màu nâu, kích thước chiều dài khoảng (5,7)cm (Mẫu M).
- 01 (một) chai chựa màu trắng trên bề mặt chai nhựa có hàng chữ Number 1, có nắp màu xanh được đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng – vàng, lỗ còn lại gắn ống thủy tinh;
- 01 (một) bật lửa màu đỏ - trắng;
- 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu trắng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước chiều dài khoảng (9,7)cm;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng bị bể màn hình, gắn sim số: 0378197451, số IMEI: 355731076277269 (thu giữ của Phan Hữu T3);
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng, gắn sim số: 0979881706, số IMEI 1: 3572710998328269, số IMEI 2: 357271098574649 (thu giữ của Nguyễn Thị Thu H);
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, gắn sim số: 0332187484, số IMEI: 353290071045827 (thu giữ của Hoàng Anh T2);
Theo kết quả các phiếu xét nghiệm ngày 05/6/2024 của Bệnh viện Đ2 thì Đinh Nguyễn Tú A; Hồ Trần Bảo D1; Phan Hữu T3; Nguyễn Thị Thu H; Hoàng Anh T2 đều dương tính với M.
Tại Bản kết luận giám định số 634 ngày 13/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1631 gam; là Methamphetamine.
Vật chứng vụ án: Số ma tuý còn lại sau giám định và ống thuỷ tinh cong được niêm phong trong bì số 634 của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 (một) chai chựa màu trắng trên bề mặt chai nhựa có hàng chữ Number 1, có nắp màu xanh được đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng – vàng, lỗ còn lại gắn ống thủy tinh; 01 (một) bật lửa màu đỏ - trắng; 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu trắng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước chiều dài khoảng (9,7)cm; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng bị bể màn hình, gắn sim số: 0378197451, số IMEI: 355731076277269; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng, gắn sim số: 0979881706, số IMEI 1: 3572710998328269, số IMEI 2: 357271098574649; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, gắn sim số: 0332187484, số IMEI: 353290071045827 hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKLG-HS ngày 02/10/2024 của VKSND thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Hoàng Anh T2, Nguyễn Thị Thu H, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Truy tố Phan Hữu T3 về tội về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đ1 c Khoản 1 Điều 249 BLHS;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hoàng Anh T2, Nguyễn Thị Thu H, Phan Hữu T3 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Anh T2, Nguyễn Thị Thu H, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tuyên bố bị cáo Phan Hữu T3 về tội phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Đề nghị áp dụng: Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 BLHS; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Anh T2, mức án từ 08 đến 09 năm tù.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H, mức án từ 07 đến 08 năm tù.
- Đề nghị áp dụng Điểm a, b Khoản 2 Điều 255, Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Hữu T3 mức án 07 đến 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Phan Hữu T3 chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 08 năm 06 tháng đến 10 năm tù.
* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định và ống thuỷ tinh cong được niêm phong trong bì số 634 của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 (một) chai chựa màu trắng trên bề mặt chai nhựa có hàng chữ Number 1, có nắp màu xanh được đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng – vàng, lỗ còn lại gắn ống thủy tinh; 01 (một) bật lửa màu đỏ - trắng; 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu trắng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước chiều dài khoảng (9,7)cm;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng bị bể màn hình, và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng,
Trả lại cho bị cáo Hoàng Anh T2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận tội như cáo trạng truy tố và thống nhất với các điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi viện dẫn trong cáo trạng. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an thị xã L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Riêng bị cáo Phan Hữu T3 trình bày, khi bị cáo Nguyễn Thị Thu H yêu cầu bị cáo chở D1 đến quán C1, khi gặp nhau, D1 đưa cho bị cáo 01 tép ma túy để bị cáo cầm đến cà phê Vườn Gió để mọi người sử dụng chung và số ma túy còn lại trong nỏ thì bị bắt giữ là cũng có nguồn gốc từ tép ma túy này, tuy nhiên D1 không thừa nhận. Lời khai của bị cáo T3 mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo còn lại cũng như các đối tượng khác về nội dung nêu trên. Quá trình điều tra, T2, H, D1, Tú A đều xác định ma túy của bị cáo T3 mang đến, bỏ vào nỏ thủy tinh cho mọi người sử dụng. Do vậy, lời khai của T3 về việc ma túy là của D1 là không có căn cứ để xem xét.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 11 giờ ngày 05/6/2024, tại phòng G9 của khách sạn N, thuộc khu phố C, phường T, thị xã L do bị cáo Nguyễn Thị Thu H thuê, Hoàng Anh T2 có hành vi rủ rê và đưa tiền cho Nguyễn Thị Thu H để mua ma tuý sử dụng thì Nguyễn Thị Thu H đống ý. H đưa tiền cho Phan Hữu T3 đi mua ma tuý. Sau khi T3 mua được ma túy, các bị cáo T2, H và T3 đã cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng tuy nhiên không sử dụng hết, số ma túy còn lại trong nỏ, bị cáo T3 đem về cất giữ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T2, H và T3 rủ nhau đem số ma tuý còn lại đến quán C1 thuộc khu phố C, phường T, thị xã L để sử dụng tiếp. Lúc này, có Đinh Nguyễn Tú A đến uống nước, thấy có ma túy nên Tú A cùng sử dụng với các bị cáo. Trong lúc các bị cáo T2, H, T3 và đối tượng Đinh Nguyễn Tú A đang sử dụng ma tuý thì số ma tuý còn lại trong nỏ thuỷ tinh hết, bị cáo H kêu T3 đi chở Hồ Trần Bảo D1 đến chơi. Khi T3 chở D1 tới quán C1 thì T3 cầm theo một tép ma tuý đá, bị cáo T3 cắt ra đổ vào trong nỏ thuỷ tinh để cho mọi người sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, trong lúc các bị cáo T2, H, T3, cùng Tú A, D1 đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Cơ quan CSĐT Công an thị xã L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Qua giám định, số ma tuý còn lại trong nỏ thủy tinh mà các bị cáo sử dụng chưa hết mà Cơ quan CSĐT Công an thị xã L thu giữ có khối lượng là 0,1631 gam Methamphetamine. Đinh Nguyễn Tú A; Hồ Trần Bảo D1; Phan Hữu T3; Nguyễn Thị Thu H; Hoàng Anh T2 được xét nghiệm đều dương tính với Methamphetamine.
Xét thấy, các bị cáo Hoàng Anh T2, Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi 02 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (tại phòng G9 và quán C1 lần đầu) và đối với 02 người trở lên, đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Phan Hữu T3 ngoài hành vi đồng phạm với bị cáo T2 và H trong 02 lần tổ chức sử dụng chất ma túy kể trên, bản thân bị cáo còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với hành vi cung cấp ma túy để T2, H, Tú A, D1 và bị cáo cùng sử dụng tại quán C1 (lần sau); Đồng thời, số ma tuý còn lại thu giữ trong ống thuỷ tinh có khối lượng 0,1631 gam Methamphetamine có nguồn gốc từ tép ma túy bị cáo cung cấp cho mọi người sử dụng nhưng chưa hết, do vậy, hành vi của bị cáo Phan Hữu T3 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố các bị cáo Hoàng Anh T2, Nguyễn Thị Thu H, Phan Hữu T3 về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, vai trò đồng phạm của từng bị cáo: Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng G9 khách sạn N và tại quán C1 lần đầu, Mặc dù giữa các bị cáo T2, H, T3 cùng cố ý và thống nhất về việc tổ chức cho bản thân và những người khác cùng sử dụng ma túy. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ, không có sự cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Hoàng Anh T2 là người đưa tiền mua ma túy, bị cáo H cung cấp nơi sử dụng và dụng cụ sử dụng ma túy, bị cáo T3 là trực tiếp đi mua ma túy. Do vậy, các bị cáo đều người thực hành tội phạm tích cực. Bị cáo Phan Hữu T3 có 03 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, do vậy, hình phạt áp dụng đối với bị cáo phải cao hơn bị cáo T2 và bị cáo H.
Hành vi của các bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo là người đã thành niên, có trình độ học vấn nhất định, bản thân các bị cáo nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện, gây nguy hại đến sức khỏe người sử dụng và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của mình, các bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua ma túy để sử dụng cho bản thân đồng thời còn tổ chức cho nhiều người khác sử dụng chung. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục chính các bị cáo, đồng thời làm gương cho những người khác.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về vật chứng vụ án:
Đối với số ma tuý còn lại sau giám định và ống thuỷ tinh cong được niêm phong trong bì số 634 của Phòng K2 Công an tỉnh B là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chai chựa màu trắng trên bề mặt chai nhựa có hàng chữ Number 1, có nắp màu xanh được đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng – vàng, lỗ còn lại gắn ống thủy tinh; 01 (một) bật lửa màu đỏ - trắng; 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu trắng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước chiều dài khoảng (9,7)cm, là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng bị bể màn hình, gắn sim số: 0378197451, số IMEI: 355731076277269 thu giữa của bị cáo Phan Hữu T3 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng, gắn sim số: 0979881706, số IMEI 1: 3572710998328269, số IMEI 2: 357271098574649 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là phương tiện dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, gắn sim số: 0332187484, số IMEI: 353290071045827 thu giữ của Hoàng Anh T2, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo T2.
[6] Với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo T3, hiện không xác định được, không có cơ sở xử lý, Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về án phí, các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Anh T2 (K), bị cáo Nguyễn Thị Thu H (S) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Phan Hữu T3 (Đ) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Căn cứ: Điểm a, b Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Anh T2 (K) 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 06/6/2024.
3. Căn cứ: Điểm a, b Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H (S1) 08 (Tám) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 06/6/2024.
4. Căn cứ: Điểm a, b Khoản 2 Điều 255, Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Hữu T3 (Đ) 08 (Tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 01 (Một năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Khoản 1 Điều 46, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại sau giám định và ống thuỷ tinh cong được niêm phong trong bì số 634 của Phòng K2 Công an tỉnh B; 01 (một) chai chưa màu trắng trên bề mặt chai nhựa có hàng chữ Number 1, có nắp màu xanh được đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng – vàng, lỗ còn lại gắn ống thủy tinh; 01 (một) bật lửa màu đỏ - trắng; 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu trắng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước chiều dài khoảng (9,7)cm;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng bị bể màn hình, gắn sim số: 0378197451, số IMEI: 355731076277269; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu trắng, gắn sim số: 0979881706, số IMEI 1: 3572710998328269, số IMEI 2: 357271098574649;
Trả lại cho Hoàng Anh T2 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, gắn sim số: 0332187484, số IMEI: 353290071045827
Vật chứng vụ án được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.
* Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Hoàng Anh T2, Nguyễn Thị Thu H, Phan Hữu T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án hợp lệ tại địa phương.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Thị Yến Nhi |
Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 143/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Anh T, Nguyễn Thị Thu H, Phan Hữu T "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"
