|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/DSST Ngày: 31/5/2024 V/v: Tranh chấp thẻ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Bích Liên
2. Bà Bùi Thị Hạnh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh– Thư ký Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Đào Linh T – Kiểm sát viên.
Ngày 31/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 37/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp thẻ tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST-DS ngày 17/5/2024 giữa:
Nguyên đơn:Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở: Số B - B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng Giám đốc; Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H. (Có mặt)
Bị đơn: Anh Trần Thượng N, sinh năm 1992; ĐKHKTT: SỐ C Ngõ B Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Hiện đang tạm giam tại Trại giam S1 - Công an thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngân hàng TMCP S và anh Trần Thượng N đã ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 23/08/2017 được phê duyệt ngày 24/8/2017 (dành cho khách hàng cá nhân): Hạn mức tín dụng: 30.000.000 đồng; Lãi cho vay trong hạn: được quy định theo Hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn.
Sau khi được cấp thẻ, anh N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 890.817.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ, anh N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền. 868.800.000 đồng. Sau đó anh N vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình giải quyết:
- Buộc anh Trần Thượng N phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 31/05/2024 là 89.855.385 đồng. Trong đó: Dư nợ thẻ chuyển quá hạn: 34.816.793 đồng; Lãi quá hạn: 55.038.592 đồng.
- Buộc anhTrần Thượng N phải trả cho Ngân hàng TMCP S số nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 01/6/2024 theo mức lãi suất nợ quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ ngày 24/8/2017 (dành cho khách hàng cá nhân) cho đến khi thanh toán hết nợ vay cho Ngân hàng.
Bị đơn - Anh Trần Thượng N hiện đang tạm giam tại Trại giam S1 - Công an thành phố H, không có bản khai trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
Bị đơn đang tạm giam tại Trại giam S1 - Công an thành phố H nên không có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- + Về thẩm quyền: Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng theo Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự;
- + Tiến hành hòa giải, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, công bố chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ theo các Điều 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng theo trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
- + Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự và đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự;
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại chương XIV và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- + Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 85, Điều 86 Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- + Về hình thức và nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được các bên ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Trần Thượng N phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc tính đến ngày 31/5/2024 34.816.793 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Áp dụng Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S yêu cầu anh Trần Thượng N phải thanh toán số tiền do vi phạm hợp đồng thẻ tín dụng nên xác định đây là vụ án Dân sự tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng. Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S có ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với anh Trần Thượng N. Căn cứ thu nhập của anh Trần Thượng N, Ngân hàng đã đồng ý cấp 01 thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Ngân hàng TMCP S yêu cầu anh Trần Thượng N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 31/05/2024 là 89.855.385 đồng. Trong đó: Dư nợ thẻ chuyển quá hạn: 34.816.793 đồng; Lãi quá hạn: 55.038.592 đồng.
[2.2]. Xét thấy, việc thỏa thuận lãi quá hạn của các bên trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng là đúng pháp luật và phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng.
Việc anh Trần Thượng N chưa thanh toán tiền cho Ngân hàng TMCP S theo đúng thời hạn ghi trong hợp đồng thẻ tín dụng là vi phạm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa các bên, vi phạm Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, Ngân hàng TMCP S yêu cầu anh Trần Thượng N phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn là có cơ sở chấp nhận.
Ngân hàng TMCP S đưa ra bảng kê chi tiết cách tính lãi, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Do đó, anh Trần Thượng N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 31/05/2024 là 89.855.385 đồng. Trong đó: Dư nợ thẻ chuyển quá hạn: 34.816.793 đồng; Lãi quá hạn: 55.038.592 đồng. Anh Trần Thượng N phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo qui định tại hợp đồng thẻ kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2024 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.
[3]. Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4].Về án phí: Anh Trần Thượng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 4.492.000 đồng. Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.888.000 đồng theo biên lại số 0004976 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
[5]. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Thượng N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng vào Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Áp dụng Điều 351, 353, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với anh Trần Thượng N về việc tranh chấp thẻ tín dụng.
- Buộc anh Trần Thượng N phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 31/05/2024 là 89.855.385 đồng (T1 mươi chín triệu, tám trăm năm mươi năm nghìn, ba trăm tám mươi năm đồng). Trong đó: Dư nợ thẻ chuyển quá hạn: 34.816.793 đồng; Lãi quá hạn: 55.038.592 đồng. Anh Trần Thượng N phải tiếp tục thanh toán nợ lãi phát sinh theo qui định tại hợp đồng thẻ kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2024 cho đến ngày thanh toán xong khoản nợ gốc.
Trường hợp bản án quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Anh Trần Thượng N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 4.492.000 đồng. Ngân hàng TMCP S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.888.000 đồng theo biên lại số 0004976 ngày 06 tháng 03 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Thượng N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Ngọc Liên |
Bản án số 143/2024/DSST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp thẻ tín dụng
- Số bản án: 143/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp thẻ tín dụng
