Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2023/HSST

Ngày 30/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng, Bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên toà: Ông Tô Mạnh Hà – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà:

Nguyễn Thị Thu Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2023/TLST - HS ngày 01/11/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Khắc P, sinh năm: 1980. Nơi cư trú: thôn M, xã M, huyện C, TP. Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Dương Khắc T (đã chết) và bà Đỗ Thị G. Vợ: Nguyễn Thị C. Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 18/07/2017, bị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và phạt tiền 3.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (chưa nộp 3.000.000 đồng tiền phạt). Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/09/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an T5.

2. Họ và tên: Phùng Xuân Đ, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: khu Đ, xã H, huyện C, TP . Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không. Văn hóa: 07/10. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ đoàn thể: Là Đảng viên Đ1 (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng). Con ông Phùng Xuân H và bà Phùng Thị B. Vợ: Nguyễn Thị H1. Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/09/2023 đến ngày 07/09/2023 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.

3. Họ và tên: Nguyễn Phượng C1, sinh năm: 1977. Nơi cư trú: thôn M, xã M, huyện C, TP . Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 02/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Phượng C2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị X (đã chết). Vợ: Nguyễn Thị H1. Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/09/2023 đến ngày 07/09/2023 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại địa phương

4. Họ và tên: Lê Đình N, sinh năm: 1983. Nơi cư trú: thôn M, xã M, huyện C, TP . Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Đình N1 và bà Cao Thị M. Vợ: Phùng Thị Sáu . Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/10/2016, bị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/09/2023 đến ngày 07/09/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.

5. Họ và tên: Phùng Xuân H2, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện C, TP . Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 01/12 . Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phùng Xuân H và bà Phùng Thị B. Vợ: Bùi Thị T1. Có 02 con, lớn sinh năm 1991 (đã chết), nhỏ sinh năm 1993. Tiền án, tiền sự: Không . Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/09/2023 đến ngày 07/09/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.

6. Họ và tên: Cao Văn T2, sinh năm: 1963. Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện C, TP. Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 01/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Cao Văn T3 (đã chết) và bà Phùng Thị V (đã chết). Vợ: Nguyễn Thị N2. Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 02/07/2013, bị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 07 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/09/2023 đến ngày 07/09/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.

7. Họ và tên: Ngô Văn D, sinh năm: 1977. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, TP .. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa: 05/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Ngô Văn M1 (đã chết) và bà Lê Thị Viết .1 Vợ: Lê Thị T4. Có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/10/2016, bị Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Bị bắt tạm giữ từ ngày 01/09/2023 đến ngày 07/09/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 01/09/2023, Phùng Xuân Đ đang ở nhà tại khu Đ, xã H, huyện C, TP. Hà Nội thì có Dương Khắc P, Ngô Văn D, Cao Văn T2, Nguyễn Phượng C1, Phùng Xuân H2 và Lê Đình N đến chơi. Tại đây, P, D, T2, C1, H2, N cùng rủ nhau tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh “xóc đĩa” được thua bằng tiền. Các đối tượng đã hỏi Đ và được Đ đồng ý cho đánh bạc tại nhà Đ. Mỗi người đánh bạc đóng cho Đ 200.000 đồng là tiền phế và Đ cung cấp 01 chiếu cói, 01 thảm nỉ màu đỏ, 01 bát, 01 đĩa men sứ cho các đối tượng đánh bạc còn bản thân Đ không tham gia đánh bạc. Nguyễn Phượng C1 là người lấy kéo trong nhà Đ và cắt quân vị, cũng là người xóc cái. Trước khi đánh bạc, P, D, T2, C1, H2, N quy định hình thức đánh “xóc đĩa” như sau:

Người xóc cái dùng 01 bát sứ úp lên đĩa sứ bên trong có 04 quân được cắt hình tròn bằng quân bài chắn có kích thước khoảng 01 cm trong đó có 01 "mặt trắng" và 01 mặt sẫm màu hay còn gọi là "mặt thâm", 04 quân tròn này được gọi là quân vị. Khi đánh bạc, đối tượng xóc cái quy định: Các con bạc ngồi bên tay phải người xóc cái là cửa chẵn, bên tay trái của người xóc cái là cửa lẻ. Đối tượng xóc cái dùng hai tay xóc đều các quân vị trong bát và đặt bát xuống chiếu bạc để các con bạc đặt tiền đánh bạc theo các cửa chẵn hoặc lẻ tuỳ ý. Việc đặt tiền đánh bạc trong mỗi ván bạc không hạn chế. Khi mở bát, nếu quân vị ra chẵn (có hai mặt thâm, hai mặt trắng hoặc bốn mặt thâm, bốn mặt trắng) thì người đặt tiền ở cửa chẵn thắng, người đặt tiền ở cửa lẻ thua. Nếu quân vị ra lẻ (ba mặt thâm một mặt trắng, ba mặt trắng một mặt thâm) thì người đặt tiền ở cửa lẻ thắng, người đặt tiền ở cửa chẵn thua. Số tiền thắng, thua bằng số tiền đã đặt cửa khi đánh bạc và xác định thắng thua sau khi mở bát. Nếu số tiền thắng thua bằng nhau thì người xóc cái không phải trả tiền, nếu số tiền thắng nhiều hơn số tiền thua thì người xóc cái phải trả số tiền chênh lệch và ngược lại.

Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, các đối tượng đang tham gia đánh bạc thì bị lực lượng Công an bắt quả tang,

- Tổng số tiền thu giữ là 17.300.000 đồng (Mười bảy triệu ba trăm nghìn đồng), trong đó thu trên chiếu bạc số tiền là 9.250.000 đồng, trên người các đối tượng là 8.050.000 đồng (gồm: Phùng Xuân Đ là 1.200.000 đồng tiền phế, Dương Khắc P là 200.000 đồng, Ngô Văn D là 500.000 đồng, Cao Văn T2 là 1.000.000 đồng, Nguyễn Phượng C1 là 2.150.000 đồng, Phùng Xuân H2 là 2.000.000 đồng, Lê Đình Nghĩa là 1.000.000 đồng).

Quá trình điều tra xác định hành vi cụ thể của các bị cáo như sau:

1. Phùng Xuân Đ (chủ nhà): Không tham gia đánh bạc cùng các đối tượng, là người cung cấp dụng cụ đánh bạc (chiếu cói, thảm nỉ, bát, đĩa sứ), đồng ý cho 06 đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa” tại nhà ở của mình để hưởng lợi 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền phế từ các đối tượng đánh bạc.

2. Nguyễn Phượng C1: Là người cắt quân vị và đồng thời là người xóc cái. Khi tham gia đánh bạc, C1 mang theo 4.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc cùng các đối tượng, C1 đã bỏ ra 200.000 đồng tiền phế cho Đ (chủ nhà). Đến khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do hoảng sợ, C1 đã vứt hết tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, C1 còn 2.150.000 đồng trên người tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

3. Lê Đình N: Khi tham gia đánh bạc, N mang theo 4.300.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc cùng các đối tượng, N đã bỏ ra 200.000 đồng tiền phế cho Đ (chủ nhà). Đến khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do hoảng sợ, N đã vứt hết tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, N còn 1.000.000 đồng trên người tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

4. Phùng Xuân H2: Khi tham gia đánh bạc, H2 mang theo 3.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc cùng các đối tượng, H2 đã bỏ ra 200.000 đồng tiền phế cho Đ (chủ nhà). Đến khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do hoảng sợ, H2 đã vứt hết tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, H2 còn 2.000.000 đồng trên người tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

5. Cao Văn T2: Khi tham gia đánh bạc, T2 mang theo 2.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc cùng các đối tượng, T2 đã bỏ ra 200.000 đồng tiền phế cho Đ (chủ nhà). Đến khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do hoảng sợ, T2 đã vứt hết tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, T2 còn 1.000.000 đồng trên người tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

6. Ngô Văn D: Khi tham gia đánh bạc, D mang theo 2.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc cùng các đối tượng, D đã bỏ ra 200.000 đồng tiền phế cho Đ (chủ nhà). Đến khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do hoảng sợ, D đã vứt hết tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, D còn 500.000 đồng trên người tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

7. Dương Khắc P: Khi tham gia đánh bạc, P mang theo 1.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Qúa trình đánh bạc cùng các đối tượng, P đã bỏ ra 200.000 đồng tiền phế cho Đ (chủ nhà). Đến khi bị lực lượng Công an bắt quả tang, do hoảng sợ, P đã vứt hết tiền xuống chiếu bạc không rõ thắng thua, P còn 200.000 đồng trên người tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an

Cáo trạng số 138/CT –VKS ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Phùng Xuân Đ, Dương Khắc P, Ngô Văn D, Cao Văn T2, Nguyễn Phượng C1, Phùng Xuân H2 và Lê Đình N về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội không bị oan.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị:

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử Phạt Dương Khắc P từ 12 đến 15 tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Lê Đình N từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Xử phạt bị cáo Ngô Văn D từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Xử phạt bị cáo Cao Văn T2 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, (H2, Đ áp dụng thêm khoản 2) Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phùng Xuân Đ từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng Xử phạt Nguyễn Phượng C1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Xử phạt Phùng Xuân H2 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng là: 01 (một) chiếu cói; 01 thảm nỉ màu đỏ; 01 bát, 01 đĩa men sứ, 04 quân vị.; 01 kéo thu giữ được của các bị cáo. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền thu được của các bị cáo dùng đánh bạc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều không khiếu nại về các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà, thấy phù hợp với vật chứng thu được, lời khai của chính các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ, ngày 01/9/2023, tại nhà ở của Phùng Xuân Đ tại xã H, huyện C. Phùng Xuân Đ đã đồng ý cho các bị cáo Dương Khắc P, Ngô Văn D, Cao Văn T2, Nguyễn Phượng C1, Phùng Xuân H2 và Lê Đình N đánh bạc được thua bằng tiền với tổng số tiền 17.300.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 17.300.000 đồng của các bị cáo đã phạm vào tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố các bị cáo về tội “đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự coi thường pháp luật hành vi đó còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, nên đối với các bị cáo cần phải được đưa ra xét xử thật nghiêm minh trước pháp luật, nhằm giáo dục các bị cáo và phong ngừa tội phạm chung.

Căn cứ vào sự phân hóa vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc để quyết định hình phạt đối với mỗi bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, có tính chất cơ hội.

Trong vụ án này Bị cáo Phùng Xuân Đ là chủ nhà có hành vi cung cấp công cụ đánh bạc, thu tiền phế hưởng lợi số tiền 1.200.000 đồng. Bị cáo không tham gia chơi bạc. Khi lượng hình HĐXX xem xét, số tiền bị cáo thu lời bất chính là không lớn, nhất thời phạm tội, tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố đẻ là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ quy đinh tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51. Nên áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Bị cáo Dương Khắc P sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, Nhân thân bị cáo có một tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm. Vì vậy phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình HĐXX xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, số tiền sử dụng đánh bạc thấp nhất, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, đánh giá đến vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về xã hội.

Bị cáo Lê Đình N sử dụng số tiền 4.300.000 đồng, Ngô Văn D sử dụng số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo Cao Văn T2 sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc. Khi L hình HĐXX xem xét: Các bị cáo đã từng bị xét xử về tội đánh bạc tuy nhiên các tiền án này đều đã được xóa từ lâu, hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn (có xác nhận của địa phương), gia đình đều có công với đất nước. Tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018của Hội đồng thẩm phán TANDTC và Điều 65 BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Phượng C1 sử dụng số tiền 4.000.000 đồng, Phùng Xuân H2 sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc. Khi L hình HĐXX xem xét: Các bị cáo Nguyễn Phượng C1, Phùng Xuân H2 đều chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo H2 có bố đẻ là người có công với cách mạng. Đối với các bị cáo áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy các bị cáo đều có hoàn kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Vật chứng vụ án:

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 17.300.000 đồng của các bị cáo.

- 01 chiếu cói đã qua sử dụng, 1 thảm nỉ màu đỏ đã qua sử dụng, 1 bát men sứ, 1 đĩa men sứ, 4 quân vị hình tròn, 1 kéo là công cụ phạm tội đánh bạc nên tịch thu tiêu hủy

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo: Phùng Xuân Đ, Dương Khắc P, Ngô Văn D, Cao Văn T2, Nguyễn Phượng C1, Phùng Xuân H2Lê Đình N phạm tội Đánh bạc.

2. Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự

- Xử phạt: D (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/9/2023.

2.1. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: L (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt: Ngô Văn D 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt: Cao Văn T2 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2.2. Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; (Phùng Xuân Đ, Phùng Xuân H2 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Nguyễn Phượng C1 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt: Phùng Xuân Đ 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt: Phùng Xuân Hiệp 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 20 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Phùng Xuân Đ, Phùng Xuân H2 về Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Hà Nội. Giao bị cáo Cao Văn T2 về Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Hà Nội. Giao các bị cáo Lê Đình N, Nguyễn Phượng C1 về Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, Hà Nội. Giao bị cáo Ngô Văn D về Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Hà Nội giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách của bản án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy:

- 01 chiếu cói đã qua sử dụng, 1 thảm nỉ màu đỏ đã qua sử dụng, 1 bát men sứ, 1 đĩa men sứ, 4 quân vị hình tròn, 1 kéo; Tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2023.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 17.300.000 đồng (Mười bẩy triệu ba trăm nghìn đồng).

(Toàn bộ số tiền trên hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1052753.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, theo Ủy nhiệm chi của Công an huyện C ngày 02/11/2023 tại Kho bạc nhà nước Chương Mỹ)

4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phùng Xuân Đ, Dương Khắc P, Ngô Văn D, Cao Văn T2, Nguyễn Phượng C1, Phùng Xuân H2 và Lê Đình N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Bị cáo;

- VKSND thành phố Hà Nội;

- TAND thành phố Hà Nội;

- VKSND huyện Chương Mỹ;

- Công an huyện Chương Mỹ;

- TT lý lịch-Sở Tư pháp TP.Hà Nội;

- Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;

- Lưu HS -VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Việt Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2023/HSST ngày 30/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 143/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger