|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
- Ông Trần Trung Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thị Hương Giang
- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thuý An- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 373/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/8/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 114/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dương Thùy Thanh T, sinh năm 1978; địa chỉ: số A khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1970; địa chỉ: số A khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 03/7/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng và nguyên đơn chị Dương Thùy Thanh T trình bày:
Chị Dương Thùy Thanh T và anh Nguyễn Thành T1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường ), thành phố D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60/KH/2003 vào ngày 24/7/2003.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2008 khi chị T sinh cháu Nguyễn Dương Hoàng V thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Do anh T1 không chịu khó làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt về nhà kiếm chuyện, đập phá đồ đạc trong nhà, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp. Ngoài ra, anh T1 còn có quan hệ bất chính và thuê nhà trọ sống chung với người phụ nữ khác. Mặc dù cả hai đã cố gắng hoà giải nhưng không có kết quả. Nay, chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nên yêu cầu được ly hôn với anh T1. Hiện nay chị T mở cửa hàng buôn bán với mức thu nhập khoảng 14.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/tháng.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Hồng Â, sinh ngày 24/10/2003; cháu Nguyễn Dương Hoàng P, sinh ngày 13/02/2006 và cháu Nguyễn Dương Hoàng V, sinh ngày 19/10/2008. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Dương Hoàng V và không yêu cầu anh Trung cấp d nuôi con. Riêng các con chung Nguyễn Hồng  và Nguyễn Dương Hoàng P đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai đề ngày 05/8/2024 và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Thành T1 trình bày:
Thống nhất về thời gian chung sống và kết hôn như chị T trình bày. Tuy nhiên, từ trước đến nay vợ chồng anh, chị chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn trầm trọng. Những mâu thuẫn phát sinh chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống. Anh T1 vẫn còn tình cảm với chị T nên không muốn ly hôn và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy các con. Không có sự việc anh T1 đánh chị T và có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Thỉnh thoảng anh có tụ tập bạn bè nhậu nhưng không có về nhà kiếm chuyện và đập phá đồ đạc. Nay anh T1 xác định vẫn còn tình cảm với chị T nên mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con chung. Hiện nay anh, chị đang sinh sống trên đất bố mẹ vợ, công việc của anh T1 là phụ chị T bán hàng.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Hồng Â, sinh ngày 24/10/2003, cháu Nguyễn Dương Hoàng P, sinh ngày 13/02/2006 và cháu Nguyễn Dương Hoàng V, sinh ngày 19/10/2008. Trường hợp Toà án giải quyết cho anh T1 và chị T ly hôn thì anh T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Dương Hoàng V và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Các con chung Nguyễn Hồng  và Nguyễn Dương Hoàng P đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai đề ngày 05/8/2024, cháu Nguyễn Dương Hoàng V trình bày: Trường hợp bố, mẹ không còn chung sống với nhau nữa thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ vì mẹ tập trung làm ăn và nuôi dạy con tốt hơn ba. Quá trình chung sống, ba mẹ có mâu thuẫn và hay cãi nhau, ba không chịu làm ăn, thường hay nhậu nhẹt và kiếm chuyện vô cớ với mẹ, đập phá đồ đạc trong nhà, chửi bới con cái và đánh mẹ. Cháu V cam đoan lời khai trên của cháu là hoàn toàn đúng sự thật, không bị ai ép buộc.
- Ngày 02/8/2024, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Dương Thùy Thanh T và anh Nguyễn Thành T1 tại Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Đ và được cung cấp như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, chị Dương Thùy Thanh T không có đơn yêu cầu Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ tiến hành hòa giải. Hội liên hiệp phụ nữ phường Đ, thành phố D cũng không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ, chồng chị Dương Thùy Thanh T và anh Nguyễn Thành T1. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa anh, chị H liên hiệp phụ nữ phường Đ không biết được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn chị Dương Thùy Thanh T, bị đơn anh Nguyễn Thành T1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thùy Thanh T và anh Nguyễn Thành T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/KH/2003 ngày 24/7/2003 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị T xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 không chịu khó làm ăn mà chỉ lo nhậu nhẹt, về nhà đập phá đồ đạc. Ngoài ra, anh T1 còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Về phía bị đơn anh T1 cho rằng trong cuộc sống hôn nhân hai vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống gia đình. Anh T1 thừa nhận bản thân anh có nhậu nhẹt nhưng không kiếm chuyện, đập phá đồ đạc trong nhà. Cũng như không có sự việc anh T1 có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác.
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Thực tế, anh T1 không có sự quan tâm, chia sẻ với chị T trong cuộc sống hôn nhân. Anh T1 không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị T và anh T1 là có thật, điều này được thể hiện qua lời khai của cháu V về việc chị T và anh T1 thường xuyên cãi nhau, do anh T1 không chịu khó làm ăn, đi nhậu về gây chuyện và đập phá đồ đạc. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1 là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Giữa chị T và anh T1 có 03 con chung là cháu Nguyễn Hồng Â, sinh ngày 24/10/2003, cháu Nguyễn Dương Hoàng P, sinh ngày 13/02/2006 và cháu Nguyễn Dương Hoàng V, sinh ngày 19/10/2008. Cả hai anh, chị đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Dương Hoàng V. Tuy nhiên, việc giao con cho chị T hay anh T1 nuôi dưỡng còn phải xem xét đến khả năng, điều kiện kinh tế của các bên và quyền lợi về mọi mặt của con chung chưa thành niên.
Xét thấy, cháu V có nguyện vọng được sống cùng với chị T. Ngoài ra, chị T cũng có thu nhập ổn định và cao hơn anh T1. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu V cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ đảm bảo việc sinh sống, học tập ổn định của cháu V, đảm bảo quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đối với con chung Nguyễn Hồng Â, sinh ngày 24/10/2003, cháu Nguyễn Dương Hoàng P, sinh ngày 13/02/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Dương Thùy Thanh T không yêu cầu anh Nguyễn Thành Trung cấp d1 nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thùy Thanh T đối với anh Nguyễn Thành T1.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với quy định của pháp luật.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Thùy Thanh T chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thùy Thanh T về tranh chấp ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Nguyễn Thành T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thùy Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Thành T1 (Theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 60/KH/2003 do Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 24/7/2003).
- Về con chung: Anh Nguyễn Thành T2 giao con chung Nguyễn Dương Hoàng V, sinh ngày 19/10/2008 cho chị Dương Thùy Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, chị Dương Thùy Thanh T phải tạo điều kiện cho anh Nguyễn Thành T1 thăm nom con, không ai có quyền cản trở anh Nguyễn Thành T1 thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Dương Thùy Thanh T không yêu cầu anh Nguyễn Thành Trung cấp d1 nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Thùy Thanh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001333 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
