|
TAND HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HSST
Ngày 25/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly
Ông Lò Việt Hưng
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng A C; Sinh ngày 01/01/1998, tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản M, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Sùng A C1, sinh năm 1975 và bà Lù Thị M, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/4/2024, tạm giam từ ngày 20/4/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Sùng A C: Ông Nguyễn Xuân O – Luật sư ký hợp đồng trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. (Có mặt).
Người làm chứng:
- Đỗ Anh T.
- Lò Văn C2.
(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 11/4/2024, Sùng A C đi bộ từ nhà tại bản M, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu xuống bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng và bán. Khoảng 11 giờ cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã P, Sùng A C gặp và mua được từ một người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được H, Sùng A C đi vào trong ngôi nhà bỏ hoang thuộc bản Noong Thăng, xã P cấu lấy một ít Heroine để sử dụng bằng hình thức tiêm chích. Số Heroine còn lại, Sùng A C gói bằng mảnh nilon màu hồng rồi cầm trong lòng bàn tay phải. Một lúc sau, khi Sùng A C đang ở trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì có Đỗ Anh T (sinh năm 1993, nơi cư trú: bản Mường, xã M, huyện T) và Lò Văn C2 (sinh năm 1989, nơi cư trú: bản N, xã P, huyện T) đến gặp Sùng A C hỏi mua Heroine. Trước mặt Sùng A C, L C2 lấy ra 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đưa cho Đỗ Anh T, T góp thêm 200.000 đồng được tổng số tiền 300.000 đồng đưa cho Sùng A C để mua Heroine. Sùng A Cng nhận tiền từ Đỗ Anh T rồi đưa cho T 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng). Sau khi mua được H, Đỗ Anh T và Lò Văn C2 ngồi trong bản Noong Thăng, xã P sử dụng bằng hình thức hít. Khi T và C2 vừa sử dụng Heroine xong thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hồi 14 giờ cùng ngày, vật chứng thu giữ là 02 mảnh giấy bạc và 01 bật lửa màu xanh (đã qua sử dụng). Trên cơ sở lời khai của Đỗ Anh T và Lò Văn C2, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Sùng A C, thu giữ số tiền 300.000 đồng do Sùng A C bán H cho Đỗ Anh T và Lò Văn C2 mà có.
Bản Kết luận giám định số 436 ngày 17/4/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 300.000 VNĐ thu giữ của Sùng A C gửi giám định là tiền thật.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bật lửa màu xanh, 02 mảnh giấy bạc đã than hóa thu giữ của Đỗ Anh T và Lò Văn C2; số tiền 300.000 đồng thu giữ của Sùng A C hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Sùng A C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
2
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng A C 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa màu xanh, 02 mảnh giấy bạc đã than hóa thu giữ của Đỗ Anh T và Lò Văn C2; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của Sùng A C. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Về mức hình phạt: Do bị cáo Sùng A C là người dân tộc thiểu số, không được đi học, không biết chữ, quá trình điểu tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Sùng A C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên
3
tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Sùng A C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ ngày 11/4/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Sùng A C đã mua trái phép 01 gói Heroine từ một người không rõ lai lịch với giá 250.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán. Mua được H, Sùng A C cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức chích. Số Heroine còn lại, Sùng A C gói bằng mảnh nilon màu hồng rồi cầm trong lòng bàn tay phải mục đích để bán. Cùng ngày, Sùng A C đã cùng lúc bán trái phép 01 gói Heroine cho hai người là Đỗ Anh T và Lò Văn C2 lấy tổng số tiền 300.000 đồng.
Bị cáo Sùng A C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với mục đích thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo đã có hành vi mua ma tuý về để bán kiếm lời. Trong ngày 11/4/2024, bị cáo đã cùng một lúc bán ma tuý cho hai người là Đỗ Anh T và Lò Văn C2 thu lời bất chính số tiền 300.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Sùng A C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Sùng A C sinh ra lớn lên tại huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo chưa có vợ con sống phụ thuộc cha mẹ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo được sinh ra trong gia đình lao động nhưng không chịu khó làm ăn chân chính mà lại ăn chơi đua đòi, nghiện chất ma túy. Để có tiền tiêu sài cá nhân và có ma túy sử
4
dụng cho nhu cầu bất hợp pháp của mình, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bật lửa màu xanh, 02 mảnh giấy bạc đã than hóa thu giữ của Đỗ Anh T và Lò Văn C2 là những vật chứng không còn giá trị sử dụng và công cụ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với số tiền 300.000 đồng thu của bị cáo Sùng A C là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Sùng A C là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Không chấp nhận đề của của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Do bị cáo là người nghiện ma túy lâu năm, mặc
5
dù không biết chữ nhưng bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nếu hành vi của bị cáo không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng trên mức thấp nhất của khung hình phạt mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[10] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Sùng A Công khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Anh T, Lò Văn C2, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A C 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 11/4/2024.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì bên trong đựng 02 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu xanh. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Sùng A C 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |
7
Bản án số 143/2024/HSST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 143/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Sùng A C 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 11/4/2024.
