TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2023/HS-ST Ngày 24 - 8 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Vũ Tiến Thịnh;
- 2. Bà Hoàng Thị Phụng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2023/HSST-QĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 04/7/1986 tại Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện X, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1958; có vợ là chị Vi Thị H, sinh năm 1984 và có 01 con;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định số 14 ngày 13/12/2022, Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 21 tháng, chưa chấp hành;
Nhân thân:
- - Bản án số 571/2006/HSPT ngày 25/5/2006 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 6 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong;
- - Bản án số 174/2014/HSST ngày 01/10/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong;
- - Bản án số 214/2016/HSST ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/4/2023 đến ngày 05/4/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; (có mặt).
- Người chứng kiến:
- 1. Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số nhà 10, ngõ 313, đường Đ, tổ 5, phường B, thành phố T; (Vắng mặt).
- 2. Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số nhà 06/05, ngõ 159, đường T, tổ 4, phường K, thành phố B, tỉnh Thái Bình; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 02/4/2023, Nguyễn Văn T đi xe ôm của một người không quen biết đến khu công nghiệp C, thuộc phường Đ, thành phố B với mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T đã gặp và mua của 01 người nam giới không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy, được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ để tìm nơi sử dụng. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực đường L, tổ 10, phường X, thành phố B, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác công an thành phố Thái Bình phát hiện, bắt quả tang. Trước sự chứng kiến của anh Dương Ngọc H và anh Nguyễn Tiến V, T đã tự giác giao nộp gói ma tuý đang cầm tại lòng bàn tay trái cho cơ quan công an và khai đó là Heroin. Cơ quan Công an đã niêm phong gói ma tuý quản lý của T để trưng cầu giám định. Ngoài ra, cơ quan Công an không thu giữ và quản lý của T đồ vật, tài sản gì.
Tại Bản Kết luận giám định số 470/KL-KTHS, ngày 03/4/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định quản lý của Nguyễn Văn T là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1418 gam.
Cáo trạng số 132/CT-VKSTPTB ngày 11/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình luận tội, giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/4/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 470/KL-KTHS(MT).
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng : Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 02/4/2023, tại khu vực đường Phạm Đôn Lễ, tổ 10, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ tại lòng bàn tay trái của bị cáo 01 gói ma tuý, loại Heroin, có khối lượng 0,1418 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Vì vậy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định: “1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm năm ...; c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”. Cáo trạng số 132/CT-VKSTPTB ngày 11/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ pháp luật hình sự nghiêm cấm việc tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Đồng thời, bị cáo cũng biết rõ tác hại của ma tuý, đó là chất gây nghiện, huỷ hoại sức khoẻ của người sử dụng, là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV-AIDS, gây tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm suy đồi đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo có 01 tiền sự, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng chưa chấp hành, thể hiện việc không chấp hành pháp luật của bị cáo. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo làm lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người nam giới tại khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh, thuộc phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý. Về người lái xe ôm được bị cáo thuê chở đi mua ma túy, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn T còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 470/KL-KTHS(MT);
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2023).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 24/8/2023.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Nga |
Bản án số 143/2023/HS-ST ngày 24/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 143/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
