TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HS-ST Ngày: 24-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Bà Lê Thị Khanh
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 60/2024/HSST-QĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 89/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 105/HSST-QĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn H1; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1989 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Cấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: B, ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Võ Thị X; vợ: Võ Thị Kim C; con: có 03 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền sự: không; tiền án: không.
Nhân thân: Ngày 19/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 70/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/10/2015.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2023 đến ngày 11/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Nguyễn Văn T; giới tính: nam; tên gọi khác: T1; sinh năm 1994 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn M và bà: Nguyễn Thị Kim C1; vợ: Nguyễn Thị Ngọc H2; con: có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019.
Tiền sự: không; tiền án: không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2023 đến ngày 11/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Phan Thị N, sinh năm 1956 (vắng mặt);
Địa chỉ: F ấp X, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thị Khánh N1, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: 6 ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Dương Ngọc H3, sinh năm 1975 (vắng mặt);
Địa chỉ: 3 ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bà Nguyễn Thị Thanh H4, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Địa chỉ thường trú: 7 đường số A, phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ tạm trú: Tổ C, ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 3/2022, Nguyễn Văn H1 sử dụng số tiền 100.000.000 đồng để cho vay với lãi suất 1%/ngày/tổng số tiền vay (lãi suất 365%/năm), khi nào trả nợ gốc thì hết nợ.
Khoảng tháng 7 năm 2022, H1 đưa cho Nguyễn Văn T danh sách 12 người đang vay tiền của H1 trên địa bàn huyện H để T đi thu tiền. Từ đầu năm 2023, khi có người vay mới, H1 đưa T đi theo để nhận biết, làm quen và biết địa chỉ để thuận lợi cho việc thu tiền.
Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 03/7/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe máy biển số 59Y1-98888 đi thu tiền của người vay, khi đến trước nhà số B ấp Đ, xã T, huyện H thì bị Tổ công tác 363 Công an huyện H phát hiện và đưa về Cơ quan điều tra Công an huyện H làm rõ.
Cơ quan điều tra xác định được 04 người vay tiền của H1 và T, cụ thể như sau:
- Bà Phan Thị N vay số tiền 20.000.000 đồng từ tháng 8/2022, trả lãi mỗi ngày 200.000 đồng, đã trả được 279 ngày, tổng số tiền lãi thu được là 55.800.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 3.057.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 52.742.466 đồng, còn nợ tiền gốc 20.000.000 đồng;
- Bà Trần Thị Khánh N1 vay số tiền 30.000.000 đồng từ tháng 9/2022, trả lãi mỗi ngày 300.000 đồng, đã trả được 100 ngày số tiền 30.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 1.643.836 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 28.356.164 đồng, còn nợ tiền gốc 30.000.000 đồng;
- Bà Dương Ngọc H3 vay số tiền 10.000.000 đồng từ ngày 01/7/2022, trả tiền lãi mỗi ngày 100.000 đồng, đã trả được 278 ngày thành tiền là 27.800.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 1.523.288 đồng, tiền thu lợi bất chính là 26.276.712 đồng, còn nợ tiền gốc 10.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Thanh H4 vay số tiền 20.000.000 đồng từ tháng 4/2022, mỗi ngày trả lãi 200.000 đồng, đã trả được 369 ngày thành số tiền 73.800.000 đồng, tiền lãi hợp pháp là 4.043.836 đồng, tiền thu lợi bất chính là 69.756.164 đồng, còn nợ tiền gốc 20.000.000 đồng.
H1 thu lợi bất chính số tiền 177.131.506 đồng, trong đó từ lúc có Nguyễn Văn T giúp sức, H1 thu lợi bất chính số tiền 159.131.506 đồng.
Vật chứng thu giữ:
Xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số 59Y1-988.88 thu giữ của Nguyễn Văn T: Kết quả giám định số khung số máy đã bị tẩy xóa, không xác định được số nguyên thủy. Đối với biển số 59Y1-988.88 qua xác minh được cấp cho xe máy hiệu Honda SH có số khung ZDCKF1056BF129472, số máy KF08E1100679KTGE1 do bà Phan Thị T2 là chủ sở hữu. Hiện bà T2 vẫn quản lý và sử dụng xe. T khai mua xe của người khác nhưng không biết họ tên người bán, không làm giấy tờ mua bán xe.
Điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu xanh: Thức dùng vào việc liên lạc người vay tiền để thu tiền lãi.
Tại Bản cáo trạng số 53/CT-VKSH.HM ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm; bị cáo T từ 06 tháng đến 09 tháng tù; xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận tội danh như cáo trạng truy tố, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ. Bị cáo T cho rằng bị cáo làm công cho H1, được H1 lo ăn uống, tiêu vặt, không nhớ chính xác số tiền bao nhiêu.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Từ tháng 3/2022, Nguyễn Văn H1 sử dụng số tiền 100.000.000 đồng để cho vay với lãi suất 1%/ngày/tổng số tiền vay (lãi suất 365%/năm), khi nào trả nợ gốc thì hết nợ.
Khoảng tháng 7 năm 2022, H1 đưa cho Nguyễn Văn T danh sách 12 người đang vay tiền của H1 trên địa bàn huyện H để T đi thu tiền. Từ đầu năm 2023, khi có người vay mới, H1 đưa T đi theo để nhận biết, làm quen và biết địa chỉ để thuận lợi cho việc thu tiền.
Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 03/7/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe máy biển số 59Y1-98888 đi thu tiền của người vay, khi đến trước nhà số B ấp Đ, xã T, huyện H thì bị Tổ công tác 363 Công an huyện H phát hiện và đưa về Cơ quan điều tra Công an huyện H làm rõ.
Cơ quan điều tra xác định được 04 người vay tiền của H1 và T, cụ thể như sau:
- Bà Phan Thị N vay số tiền 20.000.000 đồng từ tháng 8/2022, trả lãi mỗi ngày 200.000 đồng, đã trả được 279 ngày, tổng số tiền lãi thu được là 55.800.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 3.057.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 52.742.466 đồng, còn nợ tiền gốc 20.000.000 đồng;
- Bà Trần Thị Khánh N1 vay số tiền 30.000.000 đồng từ tháng 9/2022, trả lãi mỗi ngày 300.000 đồng, đã trả được 100 ngày số tiền 30.000.000 đồng, số tiền lãi hợp pháp là 1.643.836 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 28.356.164 đồng, còn nợ tiền gốc 30.000.000 đồng;
- Bà Dương Ngọc H3 vay số tiền 10.000.000 đồng từ ngày 01/7/2022, trả tiền lãi mỗi ngày 100.000 đồng, đã trả được 278 ngày thành tiền là 27.800.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 1.523.288 đồng, tiền thu lợi bất chính là 26.276.712 đồng, còn nợ tiền gốc 10.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị Thanh H4 vay số tiền 20.000.000 đồng từ tháng 4/2022, mỗi ngày trả lãi 200.000 đồng, đã trả được 369 ngày thành số tiền 73.800.000 đồng, tiền lãi hợp pháp là 4.043.836 đồng, tiền thu lợi bất chính là 69.756.164 đồng, còn nợ tiền gốc 20.000.000 đồng.
H1 thu lợi bất chính số tiền 177.131.506 đồng, trong đó từ lúc có Nguyễn Văn T giúp sức, H1 thu lợi bất chính số tiền 159.131.506 đồng.
[2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với các lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện. Các bị cáo đã hành vi cho nhiều người dân vay tiền với lãi suất là 365%/năm, thu lợi bất chính số tiền 177.131.506 đồng, trong đó từ lúc có Nguyễn Văn T giúp sức, H1 thu lợi bất chính số tiền 159.131.506 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Bị cáo H1 có nhân thân xấu. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi 03 con nhỏ, có việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác.
Trong quá trình điều tra, bị cáo H1 tự khai ra có cho chú Được Xuân Thới Đ, anh Duy Xuân Thới Đ1 vay tiền nhưng không nhớ số tiền bao nhiêu, chưa lấy được khoản tiền gốc và lãi nào thì hai người này đã chuyển đi nơi khác, cắt đứt liên lạc, bị cáo không biết nhà cũng không biết thông tin gì về hai người này.
Tại phiên toà, bị cáo H1 tự khai ra có cho dì Tám Xuân Thới Đ2 vay số tiền 1.000.000 đồng, cô Q1 chợ H5 vay số tiền 1.000.000 đồng nhưng chưa lấy được khoản tiền gốc và lãi nào thì hai người này đã chuyển nhà đi nơi khác, cắt đứt liên lạc, bị cáo không biết nhà cũng không biết thông tin gì về hai người này.
Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù có điều kiện là án treo, ấn định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nuôi con nhỏ. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[6] Do bị cáo H1 và bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không xử phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[8.1] Xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh thu giữ của Nguyễn Văn T: Kết quả giám định số khung, số máy đã bị tẩy xóa, không xác định được số nguyên thủy. Do đó, tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Biển số giả 59Y1-988.88: Tịch thu tiêu hủy.
Điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu xanh: Thức dùng vào việc liên lạc người vay tiền để thu tiền lãi nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
[8.2] Đối với số tiền nợ gốc mà người vay chưa trả cho bị cáo H1, cụ thể:
- Bà N chưa trả 20.000.000 đồng;
- Bà N1 chưa trả 30.000.000 đồng;
- Bà H3 chưa trả 10.000.000 đồng;
- Bà H4 chưa trả 20.000.000 đồng;
Đây là số tiền bị cáo H1 dùng vào việc phạm tội nên cần buộc những người này nộp lại để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[8.3] Đối với số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà những người vay đã trả cho bị cáo H1, cụ thể:
- Bà N đã trả lãi 3.057.000 đồng;
- Bà N1 đã trả lãi 1.643.836 đồng;
- Bà H3 đã trả lãi 1.523.288 đồng;
- Bà H4 đã trả lãi 4.043.836 đồng;
Tổng số tiền lãi hợp pháp bị cáo H1 thu được là 10.267.960 đồng. Số tiền này tuy không tính để xác định trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo nhưng là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên buộc bị cáo H1 nộp lại số tiền 10.267.960 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
[8.4] Đối với số tiền lãi bị cáo H1 thu lợi bất chính (vượt quá 20%/năm) của những người vay, cụ thể gồm:
- Bà N: 52.742.466 đồng;
- Bà N1: 28.356.164 đồng;
- Bà H3: 26.276.712 đồng;
- Bà H4: 69.756.164 đồng;
Đây là khoản tiền bị cáo H1 thu lợi bất chính của những người vay nên buộc bị cáo H1 phải trả lại số tiền trên cho những người vay trên.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn H1;
Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn T;
Áp dụng Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện H nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo (bị cáo được hưởng án treo đã được giải thích về chế định án treo).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng 09 (chín) ngày tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2023 đến ngày 11/01/2024. Bị cáo Nguyễn Văn T đã chấp hành xong hình phạt tù.
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, không xác định số khung, số máy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro màu xanh đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ 01 biển số giả 59Y1-988.88.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
- Buộc những người có tên sau nộp lại tiền để nộp vào ngân sách Nhà nước:
- Bà Phan Thị N nộp lại 20.000.000 đồng;
- Bà Trần Thị Khánh N1 nộp lại 30.000.000 đồng;
- Bà Dương Ngọc H3 nộp lại 10.000.000 đồng;
- Bà Nguyễn Thị Thanh H4 nộp lại 20.000.000 đồng;
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1 nộp lại số tiền 10.267.960 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1 trả lại tiền cho những người có tên sau:
- Bà Phan Thị N số tiền 52.742.466 đồng;
- Bà Trần Thị Khánh N1 số tiền 28.356.164 đồng;
- Bà Dương Ngọc H3 số tiền 26.276.712 đồng;
- Bà Nguyễn Thị Thanh H4 số tiền 69.756.164 đồng;
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Án xử sơ thẩm công khai. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mai |
Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 143/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho vay lãi nặng
