|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Thịnh do – Hạnh phúc - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - - |
|
Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST Ngày 26/4/2024 V/v T/c Hôn nhân và gia đình. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Quốc Cường |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Hồ Bá Võ |
| Ông Trần Xuân Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 338/2023/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐST ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1992; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện tại: Cộng hòa liên bang Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị Đinh Thị H trình bày: Chị và anh Bùi Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 29/8/2016 tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sống tại nhà bố mẹ anh T tại xã D, huyện D. Do đời sống kinh tế vợ chồng khó khăn nên anh T đi xuất khẩu lao động tại R. Thời gian đầu thì anh T có liên lạc về, nhưng sau 02 năm thì mất liên lạc, gần đây anh T có gọi về nói là đã vượt biên sang Đức và sau đó lại không liên lạc với vợ. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H làm đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thị T1, sinh ngày 22/6/2017. Hiện nay cháu T1 đang ở với chị H. Nay ly hôn nguyện vọng của chị là được chăm sóc và nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Bùi Văn T: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Bùi Văn T có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho anh Bùi Văn T thông qua ông Bùi Văn T2 là bố của anh Bùi Văn T; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện anh Bùi Văn T vẫn vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của ông T2 thì anh T đang ở nước Đức, vẫn liên lạc về với ông qua điện thoại, nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh T ở đâu. Ông không có ý kiến gì với việc ly hôn của anh T, chị H.
Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 6778/QLXNC-P3 ngày 03/4/2024 của Cục Q – Bộ C: Anh Bùi Văn T có thông tin xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối xuất cảnh ngày 23/5/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Đinh Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Bùi Văn T; giao con chung của vợ chồng cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là anh Bùi Văn T có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, hiện đang sinh sống tại CHLB Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi văn bản tố tụng cho ông Bùi Văn T2 (là bố đẻ của anh T), đề nghị thông báo cho anh T biết về yêu cầu khởi kiện của chị H. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm thông báo về việc thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định hoãn phiên tòa, tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài và yêu cầu ông T2 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài nhưng ông không cung cấp được. Tòa án đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ đối với anh T nhưng anh T vắng mặt không có lý do; chị Đinh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Vụ án thuộc trường hợp không thể hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, chị Đinh Thị H và anh Bùi Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/9/2016. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh sau đó, khi anh T ở nước ngoài và không được hàn gắn, giải quyết. Đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị Đinh Thị H và anh Bùi Văn T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đinh Thị H. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn T.
[3.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thị T1, sinh ngày 22/6/2017. Hiện tại cháu T1 đang ở với chị H, anh T đang ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể, chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, chị H đang ở Việt Nam và có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Vì vậy, cần giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị H và anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[3.3] Tài sản chung, nợ: Chị Đinh Thị H chưa yêu cầu giải quyết và anh Bùi Văn T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[4]. Về án phí: Chị Đinh Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị H.
[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn T.
[2] Con chung: Giao con chung là cháu Bùi Thị T1, sinh ngày 22/6/2017 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[3] Về tài sản: Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn theo quy định pháp luật.
[4] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Đinh Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001279 ngày 31/10/2023.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
Chị Đinh Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Anh Bùi Văn T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |
Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn, tranh chấp về nuôi con)
- Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình (Ly hôn, tranh chấp về nuôi con)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hon Hoai Thinh
