|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HS-ST
Ngày: 23-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Truyền
Bà Bùi Thị Út
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Từ Sĩ Trần T - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 21/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/HSST-QĐ ngày 05/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Thanh N, sinh năm 1984; tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tứ M (đã chết) và bà Nguyễn Thị B (đã chết); có vợ tên Võ Thị Ngọc Y; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Trần Duy P, sinh năm 1985; tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1966; có vợ tên Lê Thị C (đã ly hôn); có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Ngọc T3, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Người làm chứng:
- + Ông Võ Thanh V, sinh năm 1985 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- + Ông Trần Thiện T4, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- + Ông Trần Thiện K, sinh năm 1980 (vắng mặt).
- + Ông Trần Đình P1, sinh năm 1986 (vắng mặt).
- + Ông Trần Đình N1, sinh năm 1985 (có mặt).
Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 27/9/2023, Trần Duy P, Lê Thanh N, Trần Thiện T4 (Sinh năm 1984), Trần Thiện K (Sinh năm 1980), Võ Thanh V (Sinh năm 1985), Trần Đình N1 (Sinh năm 1985) và Trần Đình P1 (Sinh năm 1986) cùng trú tại thôn T, xã T, thành phố P-T đang ăn nhậu tại nhà ông P1 ở thôn T, xã T thì thấy ông Trần Ngọc T2 (Sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã T, thành phố P-T) điều khiển xe mô tô một mình đến nhà ông P1 để tìm ông P1 nói chuyện. Do ông T2 bị say rượu bia nên khi nói chuyện, ông T2 xảy ra mâu thuẫn, chửi bới những người đang nhậu tại nhà ông P1. Thấy vậy, những người đang nhậu tại nhà ông P1 nói ông T2 đi về và được ông K đến dìu ông T2 đi ra khỏi cổng và nói “đi về đi” thì ông T2 điều khiển xe máy đi về nhà, sau đó ông K cũng về nhà. Khi về tới nhà, ông T2 nhớ lại sự việc tại nhà ông P1, nghĩ rằng những người trong bàn nhậu xem thường mình nên ông T2 vào nhà bếp lấy 01 con dao gấp bằng kim loại dài 22 cm bỏ vào túi quần lửng rồi chạy xe máy quay lại nhà ông P1. Khi đến đầu đường vào nhà ông P1, ông T2 để xe máy trên dốc Cầu Nghiêng rồi đi bộ tới nhà ông P1. Lúc này mọi người trong nhà anh P1 đã nhậu xong và đang dọn dẹp. Ông T2 đi tới và đứng trước cổng chửi lớn rồi sau đó rút dao gấp, cầm dao gấp bằng tay phải, lưỡi dao chĩa về phía trước rồi nhào tới và đâm dao về phía những người đang dọn dẹp nhưng không trúng ai. Thấy ông T2 có hành vi nguy hiểm, ông Võ Thanh V đến lấy 01 cây xẻng đang cắm tại bãi cát trước nhà anh P1 cầm lên, chĩa lưỡi xẻng về phía ông T2 để đe dọa, đuổi ông T2 ra khỏi nhà ông P1, ông N1, T4 cũng chạy ra theo. Khi đẩy đuổi ông T2 tới dốc bê tông lên cầu N trên đường T, N và P từ trong nhà chạy ra. N dùng tay giật cây xẻng từ tay của ông V rồi cầm xẻng bằng hai tay vung lên đánh phần lưỡi xẻng từ trên xuống, ông T2 giơ hai tay lên đỡ thì bị N đánh trúng 02 cái vào tay của ông T2. Thấy N đánh ông T2, P nhào tới giật lấy cây xẻng từ tay N, rồi kê phần lưỡi xẻng vào gờ bê tông tại dốc lên đường T và giật mạnh về phía sau khiến phần lưỡi xẻng rớt ra khỏi cán và cầm cán xẻng bằng tre dài 1,30 mét bằng hai tay đánh nhiều cái trúng vào cả 02 cánh tay ông T2. Bị đánh, ông T2 bỏ ra giải phân cách giữa đường T rồi nằm ngủ tại đây, những người còn lại đi về. Sau đó, ông Trần Ngọc T2 được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện tỉnh N, đến ngày 29/9/2023 gia đình của ông T2 đến trình báo với Công an xã T.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người còn sống số 297/KLTTCT-TTGĐYK- PY, ngày 07/12/2023 của Trung tâm G, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Trần Ngọc T2 là 18%, cụ thể như sau:
- + Vùng bụng bên phải hết sưng nề không thấy dấu tích, bụng mềm không u cục (00%);
- + Vùng ngực phải có vết thương ngang tương ứng khoang liên sườn II, III sẹo liền tốt kích thước (2,5x0,1)cm (01%);
- + Hai vết thương dọc mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải, sẹo liền tốt kích thước (2x0,1)cm (01%), (0,6x0,1)cm (01%);
- Vết mổ dọc mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải, sẹo liền tốt kích thước (8x0,5)cm (02%);
- + Vết mổ dọc mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái sẹo liền có lỗ chảy nước vàng kích thước (10x0,5)cm (02%);
- + Mặt trước khớp gối phải có vết xây sát nền đỏ kích thước (2,5x0,5)cm (01%);
- + Mu bàn tay phải hết sưng nề còn đau khi thăm khám (00%);
- + Gãy 1/3 giữa xương trụ phải (06%);
- + Gãy 1/3 dưới xương trụ trái (06%).
*Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương qua điều trị nhận định do vật tày gây nên.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Cáo trạng số 110/CT-VKSPRTC ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo các Lê Thanh N, Trần Duy P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Thanh N, Trần Duy P phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh Nhân t 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Xử phạt: Bị cáo Trần Duy P từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy đối với 01 cán tre dài 1,30 mét và 01 con dao gấp, cán dài 12cm, lưỡi dài 10cm là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
Các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn và hối cải về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Tối ngày ngày 27/9/2023, tại thôn T, xã T, thành phố P- T, xuất phát từ việc ông Trần Ngọc T2 02 lần có hành vi chửi bới và có hành vi dùng dao đâm về phía những người đang nhậu tại nhà ông Trần Đình P1, trong đó có Lê Thanh N và Trần Duy P nên Lê Thanh N đã sử dụng cây xẻng có cán bằng tre và Trần Duy P sử dụng cán xẻng bằng tre đánh trúng 02 tay của ông Trần Ngọc T2 gây thương tích 18%. Như vậy, có căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang -T truy tố các bị cáo Lê Thanh N và Trần Duy P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (thuộc điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội:
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đã sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ông T2. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; do đó cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp gây ra thương tích cho ông Trần Ngọc T2 nên khi quyết định hình phạt đối với 02 bị cáo có mức án ngang nhau là có cơ sở. Tuy nhiên, trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi khi 02 lần có hành vi chửi bới và có hành vi dùng dao đâm về phía những người đang nhậu tại nhà ông Trần Đình P1, trong đó có 02 bị cáo. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo chỉ nhằm mục đích đánh vào tay ông T2 để làm rớt con dao từ tay ông T2. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phần hình phạt khi lượng hình.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo có chung tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường thiệt hại xong cho bị hại; bị hại có một phần lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa, rèn luyện bản thân.
[5] Về hình phạt:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Lê Thanh N và Trần Duy P có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo N và P được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Đối với Trần Ngọc T2 có hành vi cầm dao gấp đến nhà ông Trần Đình P1 để đánh người khác, Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 về hành vi “Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”, quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, là có căn cứ.
Đối với Võ Thanh V, mặc dù có hành vi cầm cây xẻng đưa lên, chĩa lưỡi xẻng về phía ông Trần Ngọc T2 là nhằm đuổi ông T2 ra khỏi nhà ông Trần Đình P1 (Do ông T2 có hành vi cầm dao gấp đòi đánh người khác) và không có hành động đánh hay tác động đến ông T2 nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với V là có cơ sở.
Đối với Trần Đình N1 và Trần Thiện T4, mặc dù có hành vi khai báo không trung thực nhưng đã chủ động đến Cơ quan Công an trình diện và tự nguyện khai báo lại nội dung sự việc. Mặt khác, N1 và T4 chỉ có hành vi can ngăn và không có hành động đánh hay tác động đến ông Trần Ngọc T2 nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý đối với N1 và T4 là có cơ sở.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 cán tre dài 1,30 mét và 01 con dao gấp, cán dài 12cm, lưỡi dài 10cm. Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu huỷ.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, các bị cáo cùng những người liên quan đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền là 25.000.000đ. Các bên liên quan đã giao nhận đủ tiền và cam kết không thắc mắc khiếu nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét chấp nhận.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh N, Trần Duy P phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh N 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/7/2024).
Xử phạt: Bị cáo Trần Duy P 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/7/2024).
Trong thời gian thử thách, giao các bị cáo Lê Thanh N và Trần Duy P cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận để giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cán tre dài 1,30 mét và 01 con dao gấp, cán dài 12cm, lưỡi dài 10cm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Thanh N và Trần Duy P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/7/2024. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 143/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Nhân cùng đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
