TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HN-ST Ngày: 22/5/2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Lâm Sơn, ông Tô Ngọc Liêm.
- - Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 111/2024/TLST-HN ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-HN ngày 10 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Võ Thị H, sinh năm 1977, cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1976, cư trú: số F, tổ B, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 26/02/2024, nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn N tự tìm hiểu nhau, chung sống với nhau từ năm 1999, vợ chồng chung sống đến năm 2004 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang vào ngày 07/4/2004. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đã ly thân với nhau, không còn chăm sóc, quan tâm nhau nữa, về kinh tế mỗi người tự làm và tự sống. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông N.
- Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh năm 1999 (đã thành niên), Nguyễn Thị Kiều N1, sinh năm 2000 (đã thành niên) và Nguyễn Chí H1, sinh năm 2016. Cháu K và N1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu H1 hiện đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông N vẫn không đến Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông N. Về con chung, bà H trình bày hiện nay bà đang đi làm ăn xa, cháu Nguyễn Chí H1 hiện nay đang sống chung với ông Nguyên do bà không tranh chấp về nuôi con chung, bà rút lại yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Chí H1. Về tài sản chung và nợ chung thì không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông N đăng ký kết hôn vào ngày 07/4/2004 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang, chung sống với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Xét thấy, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn xuất phát từ kinh tế gia đình, ông N không lo làm ăn, chăm lo gia đình dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mặt khác, khi bà H yêu cầu ly hôn, ông N biết nhưng không có ý kiến phản hồi điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông N đã trầm trọng nên bà H yêu cầu ly hôn với ông N là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh năm 1999 (đã thành niên), Nguyễn Thị Kiều N1, sinh năm 2000 (đã thành niên) và Nguyễn Chí H1, sinh năm 2016. Cháu K và N1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa hôm nay, bà H rút lại yêu cầu về con chung nên đình chỉ theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề để xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông N. Đình chỉ yêu cầu giải quyết về con chung của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Võ Thị H có đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn N, ông N cư trú tại ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Ông Nguyễn Văn N đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà H, ông N tự nguyện kết hôn vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà H xác định vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 vợ chồng đã mâu thuẫn và đến đầu năm 2021 thường xuyên xảy ra cự cãi, không còn quan tâm, cuộc sống mỗi người tự lo về kinh tế, đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà H, ông N thường xuyên cãi vã và không còn sống chung từ đầu năm 2021 cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay, bà H xác định vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay và quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông N nhưng ông N không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà H. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà H, ông N là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về quan hệ con chung: bà H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh năm 1999 (đã thành niên), Nguyễn Thị Kiều N1, sinh năm 2000 (đã thành niên) và Nguyễn Chí H1, sinh năm 2016. Tại phiên tòa hôm nay, bà H xác định cháu H1 đang sống chung với ông N, do bà đang sống với con gái là Nguyễn Thị Kiều N1 để chăm sóc cháu ngoại (con của Kiều N1), cháu H1 đang ở cùng ông N đi học do đó bà không yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 và rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp nuôi con chung do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà H về tranh chấp nuôi con chung.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: bà H không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
[2.5] Về án phí sơ thẩm: bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 144, Điều 147, khoản 2 Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: bà Võ Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 122/KH ngày 07/4/2004 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị H không còn giá trị pháp lý.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H về việc yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Chí H1, sinh năm 2016.
- - Về án phí sơ thẩm:
- Bà Võ Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015093 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 26 tháng 02 năm 2024.
- Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Võ Thị H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
- Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tuyền |
Bản án số 143/2024/HN-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 143/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 111/2024/TLST-HN ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-HN ngày 10 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Võ Thị H, sinh năm 1977, cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1976, cư trú: số F, tổ B, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
