Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2025/DS-PT

Ngày 13-3-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thanh
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 06 và 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 669/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 61/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1975; địa chỉ: số C, đường số B, tổ khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản ủy quyền ngày 04/7/2022), có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Trương Thành L, sinh năm 1970; địa chỉ: số D, tổ khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Ông Trương Thanh P, sinh năm 1973; địa chỉ: số D, tổ khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông Trương Thành L và ông Trương Thanh P: Ông Đinh Tấn T1, sinh năm 1981; địa chỉ: số G, Đại lộ Bình Dương, tổ khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2023), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 06/3, có mặt tại phiên tòa ngày 13/3.

  1. Bà Đinh Thị Mỹ K, sinh năm 1971; địa chỉ: số D, tổ khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Đặng Thị Thanh T2, sinh năm 1981; địa chỉ: số D, tổ 9, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trương Thị M, sinh năm 1941; địa chỉ: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Bùi Thị X, sinh năm 1948; địa chỉ: số F, tổ khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  3. Bà Phạm Thị P1, sinh năm 1956; địa chỉ: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1944 (chết ngày 11/7/2017);

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T3:

  1. Ông Trương Thành L, sinh năm 1970; địa chỉ: số D, tổ khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Ông Trương Thanh P, sinh năm 1973; địa chỉ: số D, tổ 9, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  3. Ông Trương Thanh P2, sinh năm 1981 (chết ngày 10/01/2020);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Thanh P2:

  1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1987, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Cháu Trương Thị Thu T4, sinh ngày 14/01/2007, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Cùng địa chỉ: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của cháu Trương Thị Thu T4: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo pháp luật (mẹ ruột), có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  1. Ông Trương Thanh C, sinh năm 1982, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
  2. Ông Trương Thanh L1, sinh năm 1986, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;
  3. Bà Bùi Thị X năm 1948, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt;

Cùng địa chỉ: tổ I, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

  1. Bà Trương Ngọc T5, sinh năm 1976; địa chỉ: số B, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  1. Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người kháng cáo: nguyên đơn ông Trương Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 05/11/2015, đơn khởi kiện bổ sung và lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Văn V trình bày:

Về nguồn gốc đất: trong tổng diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế là 3271,1m² thuộc thửa đất 708, tờ bản đồ 07 tọa lạc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương có một phần là đất do ông Trương Văn T6 và bà Nguyễn Thị S là ông nội của ông T để lại cho cha mẹ ông T là ông Trương Văn R và bà Trần Thị X1 sử dụng diện tích khoảng 400m². Sau đó ông R và bà X1 để lại cho ông T quản lý sử dụng. Do ông T là người trực tiếp chăm sóc, ở chung với cha mẹ (ở một vị trí đất khác) lúc này, cha mẹ đã già yếu không sử dụng đất và ông T đang là lao động chính của gia đình nên cha mẹ ông T mới cho ông T đất. Quá trình sử dụng ông R và bà X1 chưa đăng ký, kê khai nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất không có tài sản gì và là đất trồng hoa màu. Vì vậy, khi giao quyền sử dụng đất cho ông T thì ông R và bà X1 chỉ nói bằng lời nói mà không lập thành văn bản.

Quá trình sử dụng ông T có khai phá thêm được một phần diện tích đất khoảng 3000m² tổng diện tích đất ông T sử dụng là 3.430m². Vợ chồng ông T trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất diện tích 3.271,1m² nói trên từ năm 1978 đến năm 2005. Ông T sử dụng đất vào việc trồng hoa màu sau đó trồng cao su và cây lâu năm khác.

Năm 1997, ông T kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm ông T kê khai đăng ký thì ông bà nội và cha ông T đã mất chỉ còn lại mẹ hơn 80 tuổi và vợ con của ông T. Ông T đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất với tư cách cá nhân do ông T là người khai phá và đang trực tiếp sử dụng nên được Hội đồng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã T cấp Giấy chứng nhận đăng ký số 678 ngày 15/12/1997, diện tích 3.430m². Tuy nhiên, ông T chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 3.430m². Lý do chưa đến đợt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau đó có tranh chấp với bị đơn đến nay. Đối với các phần diện tích đất không tranh chấp thì ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất và sử dụng ổn định đến nay.

Ông Trương Văn T7 là anh ruột của ông Trương Văn T, trong tổng diện tính đất 3.430m² thì ông T7 mượn sử dụng trên phần đất ông T đã khai phá diện tích khoảng 1.000m². Vào cuối năm 1978, ông T7 sử dụng được 01 năm thì ông T7 lập gia đình ra sống riêng nên không quản lý, sử dụng phần đất 1.000m² nêu trên. Vì vậy, ông T tiếp tục quản lý, sử dụng toàn bộ phần đất 3.430m². Đến đầu năm 2005 ông Trương Thanh L2 và ông Trương Thanh P xây nhà trên phần đất mà ông T đã đăng ký quyền sử dụng đất và đang quản lý, sử dụng. Ngoài ra, ông L2, ông P còn rào hàng rào toàn bộ khu đất nên mới xảy ra tranh chấp. Vì vậy, ông T khiếu nại yêu cầu gia đình bị đơn trả lại toàn bộ diện tích đất 3.430m² đất, UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên đã ra quyết định giải quyết khiếu nại, buộc gia đình bị đơn phải tháo dỡ công trình xây dựng trả lại cho ông T 3.430m² nhưng sau đó UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên đã hủy quyết định này. Tiếp đó UBND xã (nay là phường) Tân Vĩnh H tiếp tục thụ lý, giải quyết vụ tranh chấp và động viên ông T để cho bị đơn sử dụng đất diện tích đất khoảng 1.000m² mà bị đơn đã xây nhà, nhận thấy bị đơn là anh em trong nhà và các con ông T7 đã lỡ xây nhà nên ông T đồng ý. Năm 2013 tại buổi hòa giải của Ủy ban nhân dân xã T giữa ông T, ông T7 và các con của ông T7 thỏa thuận: Ông T7 và các con được quyền sử dụng 1.000m² (là phần đất đã xây nhà cho con ông T7), còn ông T được quyền sử dụng phần đất thuộc khu A, khu C hiện nay ông T đang tranh chấp và xã T đã lập biên bản hòa giải thành ngày 24/5/2013. Tuy nhiên, sau đó con ông T7 không giao lại phần đất nào cho ông T.

Theo hiện trạng trên đất thì có 02 căn nhà ở nằm tại khu B của mảnh trích lục địa chính có đo đạc số 581-2023 ngày 02 tháng 01 năm 2024 và phần sân bê tông lấn sang khu A và khu C là do bị đơn xây dựng, sử dụng. Còn lại là phần đất trống do nguyên đơn quản lý, sử dụng. Toàn bộ cây trồng trên đất đều do ông T trồng, quản lý, sử dụng.

Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu giải quyết những vấn đề sau:

  • Buộc ông Trương Thành L, bà Đinh Thị Mỹ K, ông Trương Thanh P và bà Đặng Thị Thanh T2 trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 1967,6m² thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho ông Trương Văn T (ký hiệu khu A và khu C).
  • Buộc ông Trương Thành L, ông Trương Thanh P tháo dỡ tài sản, công trình xây dựng trên phần đất ký hiệu khu B có diện tích 1.303,5m² thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giao trả phần đất này cho ông Trương Văn T.

Đối với các tài sản trên đất là cây trồng do ông T trồng nên thuộc về ông T. Đối với công trình trên đất thì yêu cầu bị đơn tháo dỡ toàn bộ trả nguyên hiện trạng phần đất này cho nguyên đơn. Đối với phần diện tích giảm do làm đường nhựa bao quanh khu đất thì không yêu cầu giải quyết, chỉ giải quyết đúng phần đất theo mảnh Trích lục địa chính có đo đạc số 581-2023 ngày 02 tháng 01 năm 2024.

- Quá trình tố tụng các bị đơn ông Trương Thành L, Trương Thanh P và đại diện hợp pháp của bị đơn ông Đinh Tấn T1 trình bày:

Cụ cố của các bị đơn tên Trương Văn T6 và Nguyễn Thị S để lại cho ông bà nội các bị đơn tên Trương Văn R và Trần Thị X1 diện tích đất 2.430m². Sau đó, ông bà nội của bị đơn để lại cho cha của bị đơn ông Trương Văn T7. Năm 1976, ông Trương Văn T7 khai phá thêm khoảng 1.000m² nâng diện tích lên 3.430m². Ông Trương Văn T chưa bao giờ quản lý, sử dụng đất nhưng năm 1997 tự ý kê khai, đăng ký đối với diện tích đất 3.430m². Ông T7 đã khiếu nại nên ông T chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2004, ông T7 đã giao cho các bị đơn quản lý, sử dụng diện tích đất và các bị đơn đã xây dựng nhà ở gắn liền với đất.

Theo hiện trạng trên đất thì bên phía bị đơn quản lí sử dụng toàn bộ phần đất và tài sản trên đất bao gồm phần đất: khu A (có diện tích 797.4m²); khu B (có diện tích 1303.5m²); khu C (có diện tích 1170.2m²) của mảnh trích lục địa chính có đo đạc số 581-2023 ngày 02 tháng 01 năm 2024. Phần tài sản trên đất thì có 02 căn nhà ở nằm tại khu B và phần sân bê tông lấn sang khu A và khu C là do bị đơn xây dựng, sử dụng. Toàn bộ cây trồng trên đất đều do ông L và ông P trồng, quản lý, sử dụng.

Do đó bị đơn không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của nguyên đơn.

Bị đơn ông Trương Thanh P có yêu cầu phản tố:

  • Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế của cụ R và cụ X1 để lại là quyền sử dụng đất có diện tích 1967,6m² thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Trương Thanh P yêu cầu được chia bằng hiện vật phần đất có diện tích 115.70m².
  • Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế của cụ R và cụ X1 để lại là quyền sử dụng đất ký hiệu khu B có diện tích 1.303,5m² thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Trương Thanh P yêu cầu được chia bằng hiện vật phần đất có diện tích 72,4m².

- Bị đơn bà Đinh Thị Mỹ K và bà Đặng Thị Thanh T2 trình bày: Thống nhất lời trình bày của người đại diện là ông T1, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Bùi Thị X trình bày: thống nhất với ý kiến trình bày của các bị đơn và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên bà Phạm Thị P1 trình bày: thống nhất với yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của nguyên đơn, thống nhất ý kiến trình bày của nguyên đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị M trình bày: thống nhất với ý kiến trình bày của các bị đơn. Xác định trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn thì phần di sản thừa kế mà bà được hưởng sẽ tặng cho ông Trương Thành L, ông Trương Thanh P.

- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Văn T7 gồm: Ông Trương Thành L, ông Trương Thanh P, bà Trương Ngọc T5, ông Trương Thanh P2 (do bà Nguyễn Thị G và cháu Trương Thị Thu T4 là người đại diện hợp pháp), ông Trương Thanh C, ông Trương Thanh L1 và bà Bùi Thị X trình bày: thống nhất với ý kiến trình bày của bị đơn, xác định trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn thì phần di sản thừa kế mà họ được hưởng sẽ tặng cho ông Trương Thành L, ông Trương Thanh P.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường T trình bày: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T trình bày: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2019/DS-ST ngày 01/7/2019 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Trương Văn T đối với các bị đơn anh Trương Thành L, chị Đinh Thị Mỹ K, anh Trương Thanh P và chị Đặng Thị Thanh T2.

Ông Trương Văn T và bà Phạm Thị P1 được quyền sử dụng 2.082,4m² đất thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng gắn liền với đất. Ông Trương Văn T và bà Phạm Thị P1 có nghĩa vụ liên đới trả giá trị cây trồng cho anh Trương Thành L, chị Đinh Thị Mỹ K 8.915.000 đồng, cho anh Trương Thanh P và chị Đặng Thị Thanh T2 8.915.000 đồng.

Anh Trương Thành L, chị Đinh Thị Mỹ K, anh Trương Thanh P và chị Đặng Thị Thanh T2 phải tháo dỡ các tài sản gắn liền với diện tích đất 2.082,4m² đất thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Trương Văn T và bà Phạm Thị P1.

- Ngày 27/8/2019, bị đơn là ông Trương Thanh P làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

- Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 251/2019/DS-PT ngày 04/11/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Thanh P. Sửa một phần bản án sơ thẩm về cách tuyên.

- Ngày 21/10/2020, ông Trương Thành L, bà Đinh Thị Mỹ K, ông Trương Thanh P và bà Đặng Thị Thanh T2 có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm.

- Tại Quyết định số 142/2021 ngày 04/10/2021, Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 251/2019/DS- PT ngày 04/11/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương và Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2019/DS-ST ngày 01/7/2019 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên.

- Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 125/2022/DS-ST ngày 18/4/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Chấp nhận Quyết định số 142/2021 ngày 04/10/2021 của Chánh án Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Huỷ bản án dân sự phúc thẩm số 251/2019/DS-PT ngày 04/11/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương và bản án dân sự sơ thẩm số 28/2019/DS-ST ngày 01/7/2019 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên.

Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.

Sau khi thu lý lại nguyên đơn có đơn khởi kiện bổ sung, bị đơn có yêu cầu phản tố, phản tố bổ sung với nội dung:

  1. Ngày 04 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trương Thanh P. Ông P yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế là quyền sử dụng đất có diện tích 2.082,4m² thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Trương Thanh P yêu cầu được chia bằng hiện vật phần đất có diện tích 115.70m².
  2. Ngày 20 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã thụ lý đơn khởi kiện bổ sung của ông Trương Văn T. Yêu cầu ông Trương Thanh L2, ông Trương Thanh P tháo dỡ tài sản, công trình xây dựng trên phần đất ký hiệu khu B có diện tích 1.303,5m² thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giao trả phần đất này cho ông Trương Văn T.
  3. Ngày 20 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã thụ lý yêu cầu phản tố bổ sung của ông Trương Thanh P. Yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế là quyền sử dụng đất ký hiệu khu B có diện tích 1.303,5m² thuộc thửa 708, tờ bản đồ 07, tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông Trương Thanh P yêu cầu được chia bằng hiện vật phần đất có diện tích 72,4m².

- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T7 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và Tranh chấp về thừa kế tài sản” đối với nguyên đơn ông Trương Văn T.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn T đối với bị đơn ông Trương Thành L, bà Đinh Thị Mỹ K, ông Trương Thanh P, bà Đặng Thị Thanh T2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trương Thanh P đối với nguyên đơn ông Trương Văn T về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

- Xác định di sản của ông Trương Văn R và bà Trần Thị X1 là quyền sử dụng đất có diện tích 3271.1m² thuộc thửa đất 708, tờ bản đồ số 7 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, tổng giá trị di sản là 19.626.600.000 đồng (mười chín tỷ sáu trăm hai mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).

- Chia di sản của ông Trương Văn R và bà Trần Thị X1 theo quy định của pháp luật cho hàng thừa kế thứ nhất gồm: Ông Trương Văn T, bà Trương Thị M và ông Trương Văn T7, mỗi kỷ phần được hưởng di sản có giá trị 6.215.090.000 đồng (sáu tỷ hai trăm mười lăm triệu không trăm chín mươi nghìn đồng).

- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trương Thị M, bà Bùi Thị X, Trương Ngọc T5, ông Trương Thanh C, ông Trương Thanh L1, bà Nguyễn Thị G, cháu Trương Thị Thu T4 tặng cho kỷ phần được hưởng cho ông Trương Thành L, Trương Thanh P.

- Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn về việc không yêu cầu Toà án giải quyết tài sản trên đất, trường hợp quyền sử dụng đất các đồng thừa kế được hưởng có tài sản trên đất được phân chia cho ai thì người đó được sở hữu và không phải bồi hoàn giá trị tài sản.

Chia di sản bằng hiện vật như sau:

  • Ông Trương Văn T được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 1170.2m² (trong đó có 266.1m² thuộc HLATĐB) thuộc thửa đất 708, tờ bản đồ số 7 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (ký hiệu khu C trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  • Ông Trương Thành L và ông Trương Thanh P được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 1303.5m² và diện tích 797.4m² (trong đó có 143.6.1m² thuộc HLATĐB) thuộc thửa đất 708, tờ bản đồ số 7 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (ký hiệu khu A và B trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định pháp luật.

Về thanh toán giá trị di sản: Ông Trương Thành L và ông Trương Thanh P có trách nhiệm thanh toán giá trị đất chênh lệch cho ông Văn T8 số tiền 175.220.000 đồng (một trăm bảy mươi lăm triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Về chi phí tố tụng:

Nguyên đơn ông Trương Văn T phải chịu 9.105.861 đồng (chín triệu một trăm lẻ năm nghìn tám trăm sáu mốt đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản, được khấu trừ vào tạm ứng đã nộp (đã thực hiện xong)

Bị đơn ông Trương Thành L và ông Trương Thanh P mỗi người phải chịu 9.105.861 đồng (chín triệu một trăm lẻ năm nghìn tám trăm sáu mốt đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản. Do ông ông Trương Văn T đã nộp tạm ứng nên ông ông Trương Thành L và ông Trương Thanh P mỗi người phải nộp 9.105.861 đồng (chín triệu một trăm lẻ năm nghìn tám trăm sáu mốt đồng) để trả lại cho ông Trương Văn T.

  1. Giải quyết hậu quả thi hành án:

Ông Trương Thành L và bà Đinh Thị Mỹ K phải nộp số tiền 8.915.000 đồng (tám triệu chín trăm mười lăm ngàn đồng) để trả lại cho ông Trương Văn T.

Ông Trương Thanh P, bà Đặng Thị Thanh T2 phải nộp số tiền 8.915.000 đồng tám triệu chín trăm mười lăm ngàn đồng) để trả lại cho ông Trương Văn T.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Trả lại cho ông Trương Văn T số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đã nộp, theo Biên thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0011774 ngày 13/11/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương và số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013295 ngày 03/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.

Bị đơn ông Trương Thành L và ông Trương Thanh P phải liên đới chịu 114.390.310 đồng (một trăm mười bốn triệu ba trăm chín mươi nghìn ba trăm mười đồng), được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đã nộp theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007468 ngày 17/3/2023 (số tiền 7.500.000 đồng) và số 0001466 ngày 17/5/2024 (số tiền 2.500.000 đồng); số tiền 8.915.000 đồng theo Biên lai thu số 44066 ngày 06/3/2020; số tiền 8.915.000 đồng theo Biên lai thu số 44067 ngày 06/3/2020; số tiền 6.727.500 đồng theo Biên lai thu số 44081 ngày 30/3/2020 và số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 44068 ngày 06/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên. Ông Trương Thành L và ông Trương Thanh P mỗi người còn phải nộp 39.766.405 đồng (ba mươi chín triệu bảy trăm sáu mươi sáu ngàn bốn trăm lẻ năm đồng).

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  1. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trương Văn T được miễn nộp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • VKSND tỉnh Bình Dương;
  • Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • TAND thành phố Tân Uyên;
  • Các đương sự;
  • Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mộng Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 143/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger