Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 143/2025/DS-PT

Ngày: 20 - 02 – 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán:Ông Đặng Văn Những
Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Vào ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 658/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 719/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
    2. Bà Hà Thị N, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Võ Thị Thu H và bà Hà Thị N: Ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ liên hệ: Số A, đường Đ, P, thị trấn T, huyện C, Long An (văn bản ủy quyền ngày 30/12/2024).

    1. Bà Ngô Thị P, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị P: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện T, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền ghi ngày 30/9/2024)

    1. Bà Phan Thị Hà T1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Bị đơn:
    1. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1978.
    2. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1981.

    Cùng địa chỉ: Ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Ngọc L, sinh năm 1958.

    Địa chỉ: D T, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An.

    1. Văn phòng C (tên cũ là Văn phòng C1).

    Địa chỉ: Số A B, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

    1. Ngân hàng T8. (tên cũ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần B1).

    Địa chỉ: Số A, đường H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá T3, sinh năm 1997. Địa chỉ: Số A - A - A, đường H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An (văn bản ủy quyền ngày 05/9/2024).

- Người kháng cáo: Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1.

(Ông Đ, ông T, bà T1, ông T3 có mặt;

Các đương sự còn lại có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/20204, các văn bản trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị Thu H trình bày

Bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C ký số công chứng 1384 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/3/2023 đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N do bà Lê Ngọc L đứng tên. Với lý do bà T2, ông V tẩu tán tài sản để không thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 29/2023/QÐST-DS ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đã có hiệu lực thi hành đối với số tiền 228.440.000 đồng.

Bà thống nhất với Chứng thư thẩm định giá ngày 23/8/2024 của Công ty Cổ phần T9.

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/20204, các văn bản trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hà Thị N trình bày:

Bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C ký số công chứng 1384 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/3/2023 đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N do bà Lê Ngọc L đứng tên. Với lý do bà T2, ông V tẩu tán tài sản để không thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 23/2023/QÐST-DS ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đã có hiệu lực thi hành đối với số tiền 120.240.000 đồng.

Bà thống nhất với Chứng thư thẩm định giá ngày 23/8/2024 của Công ty Cổ phần T9.

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2024, các văn bản trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Hà T1 trình bày:

Bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C ký số công chứng 1384 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/3/2023 đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N do bà Lê Ngọc L đứng tên. Với lý do bà T2, ông V tẩu tán tài sản để không thi hành Bản án số 20/2023/DS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đã có hiệu lực thi hành với đối số tiền 80.90.000 đồng.

Bà thống nhất với Chứng thư thẩm định giá ngày 23/8/2024 của Công ty Cổ phần T9.

Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2024, các văn bản trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị P ủy quyền cho ông Trần Hữu T trình bày:

Bà P yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C ký số công chứng 1384 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/3/2023 đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N do bà Lê Ngọc L đứng tên. Với lý do bà T2, ông V tẩu tán tài sản để không thi hành Bản án số 21/2023/DS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đã có hiệu lực thi hành với số tiền 33.480.000 đồng.

Bà thống nhất với Chứng thư thẩm định giá ngày 23/8/2024 của Công ty Cổ phần T9.

Bị đơn bà Lê Thị T2 trình bày tại bản tự khai ghi ngày 16/9/2024: Tôi nợ rất nhiều người từ năm 2018, không có tiền trả. Năm 2021 tôi có thế chấp nhà, đất cho bà B lấy số tiền 500.000.000 đồng. Đến ngày 06/8/2022 tôi thế chấp nhà, đất cho bà Lê Ngọc L vay số tiền 2.000.000.000 đồng. Hai bên có ra Văn phòng C1 ký hợp đồng thế chấp. Số tiền vay 2.000.000.000 đồng thì bà mang trả bà B 550.000.000 đồng, bà V1 650.000.000 đồng, bà T4 200.000.000 đồng, ông T5 400.000.000 đồng. Lãi suất giữa tôi và bà L thỏa thuận 1,5%/tháng, thời hạn vay là một năm. Do không có tiền trả lãi hàng tháng cho bà L nên bà L buộc tôi phải làm thủ tục chuyển quyền toàn bộ thửa đất số 4375, diện tích 221,6m² và trên đất có nhà với giá 2.000.000.000 đồng. Nên tôi với bà L ra Văn phòng C làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Tôi xin bà L cho tôi ở lại vài tháng để tìm chỗ ở mới. Vào tháng 8/2023, tôi đã giao nhà đất cho bà L xong.

Tôi không đồng ý yêu cầu vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P, bà Phan Thị Hà T1 do việc chuyển nhượng là đúng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Văn V là chồng của bà Lê Thị T2 không có lời trình bày.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Ngọc L trình bày:

Vào ngày 06/8/2022, bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V có thế chấp cho tôi một căn nhà, đất tại ấp D, xã N, huyện T để vay số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng, trả hàng tháng vào ngày 6 tây. Hai bên có làm Hợp đồng thế chấp tại Văn phòng C1. Nhưng bà T2, ông V không trả lãi cho tôi đúng như đã thỏa thuận với lý do không khả năng thanh toán nên tôi buộc bà T2, ông V phải chuyển nhượng cho tôi căn nhà, đất thuộc thửa đất số 4375, diện tích 221,6m² cho tôi vào ngày 08/3/2023. Đến tháng 8/2023, bà T2, ông V đã giao nhà, đất cho tôi. Tôi đang quản lý sử dụng. Vào ngày 13/4/2023, tôi đã thế chấp nhà và đất để vay tiền tại Ngân hàng TMCP B1 - Chi nhánh L1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày tại văn bản ghi ngày 19/9/2024:

Vào ngày 08/3/2023, Văn phòng Công chứng có tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Ngọc L. Sau khi kiểm tra thấy hồ sơ đầy đủ thủ tục và có sự thống nhất giữa hai bên, Văn phòng chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1384, quyển số 3. Việc chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng nêu trên là đúng theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP T8 - Chi nhánh L1 (tên gọi cũ là Ngân hàng TMCP B1) trình bày tại văn bản ghi ngày 24/9/2024:

Bà Lê Ngọc L vay vốn tại Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số HDTD8102023172 ký ngày 13/4/2023, số tiền vay là 300.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng tính đến ngày 14/4/2028. Tính đến ngày 24/9/2024, bà L còn nợ 145.000.000 đồng. Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ vay tiền, bà L thế chấp thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA004006 số vào sổ cấp GCN CH 02569 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 02/4/2015, cập nhật thay đổi ngày 09/3/2023, 23/3/2023 chủ sở hữu: Lê Ngọc L. Ngân hàng không đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C ngày 08/3/2023 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã căn cứ vào Điều 26 và Điều 35, 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 116, 117, 500, 502 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P, bà Phan Thị Hà T1 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C, ngày 08/3/2023 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Về lệ phí: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là 16.000.000 đồng. Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Phạm Thị P1, bà Phan Hà Cẩm T6 mỗi người phải chịu 4.000.000 đồng. (Đã nộp xong)
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Phạm Thị P1, bà Phan Hà Cẩm T6 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Bà H, bà N, bà P1, bà T6 mỗi người đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo các biên lai thu số 0008228, 0008231, 0008230, 0008232 cùng ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa. Sau khi khấu trừ tiền án phí dân sự sơ thẩm với tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà H, bà N, bà P1, bà T6 đã nộp đủ án phí.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 03/10/2024, bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1 kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Các nguyên đơn xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện và rút lại yêu cầu kháng cáo. Trường hợp Tòa án không chấp nhận việc rút lại đơn khởi kiện thì vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các nguyên đơn cho rằng bị đơn bà T2 và ông V ký hợp đồng chuyển nhượng cho bà Lê Ngọc L đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N do bà Lê Ngọc L đứng tên là tẩu tán tài sản, không còn tài sản để thi hành án cho các nguyên đơn. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các đương sự.

Ông Nguyễn Bá T3 là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng T8 trình bày: Thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N do bà Lê Ngọc L đứng tên đang thế chấp tại Ngân hàng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và xét kháng cáo của các nguyên đơn thấy rằng:

Ngày 06/8/2022 ông Nguyễn Văn V, bà Lê Thị T2 và bà Lê Ngọc L có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 công chứng số 7363 quyển số 08/2022TP/CC-SCC/HĐGĐ đối với thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An để vay số tiền 2.000.000.000 đồng, thời gian vay 01 năm, lãi suất 1,5%/tháng, trả lãi hàng tháng.

Tuy nhiên, do bà T2 không có tiền trả lãi hàng tháng cho bà L nên bà L buộc bà T2 phải làm thủ tục chuyển quyền toàn bộ thửa đất số 4375, diện tích 221,6m² và trên đất có nhà với giá 2.000.000.000 đồng.

Ngày 8/3/2023, vợ chồng bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V ký với bà bà Lê Ngọc L hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C ký số công chứng 1384 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/3/2023 đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N với giá 2.000.000.000 đồng để cấn trừ số nợ mà bà T2 chưa thanh toán.

Xét thấy tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp ngày 06/8/2022 là các bên đã tự nguyện, có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật và mục đích nội dung của hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Như vậy tại thời điểm ông V, bà T2 đồng ý đem tài sản thế chấp thì quyền lợi về tài sản đã không còn quyền định đoạt cho ông V bà T2 nữa, ông V bà T2 đã bị hạn chế về quyền định đoạt đối với tài sản này. Tại thời điểm này các nguyên đơn (bà H, bà N, bà P, bà T1 chưa có Quyết định/ Bản án có hiệu lực).

Bà H, bà P, bà T1, bà N cho rằng bà T2, ông V chuyển nhượng nhà, đất cho bà L là để tẩu tán tài sản nhưng trên thực tế vợ chồng ông V, bà T2 đã thế chấp nhà, thửa đất số 4375 cho bà L để nhận số tiền 2.000.000.000 đồng nhưng do không có khả năng trả nợ nên phải chuyển nhượng nhà và đất. Sau khi hoàn thành tất cả thủ tục để chuyển quyền sử dụng đất và xác định đấy là tài sản của mình thì bà L có tiến hành thế chấp quyền sử dụng đất trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần B1 Chi nhánh L1 để thế chấp cho khoản vay 300.000.000 đồng.

Tại thời điểm ông V, bà T2 chuyển nhượng cho bà L tại Văn phòng Công chứng trước khi Toà án thụ lý sơ thẩm các vụ án giữa các nguyên đơn và ông V, bà T2 thì thửa đất số 4375 được xác định không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án. Các nguyên đơn cũng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh là ông V, bà T2 tẩu tán tài sản.

Từ những phân tích trên kháng cáo của của nguyên đơn bà Ngô Thị P, bà Hà Thị N, bà Phan Thị Hà T1, bà Võ Thị Thu H là không có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Các đương sự bà Lê Thị T7, ông Nguyễn Văn V, bà lê Ngọc L, Văn phòng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

Tại phiên tòa, các nguyên đơn bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1 xin rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên không được sự đồng ý của bị đơn nên Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của các nguyên đơn theo quy định tại Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Các nguyên đơn kháng cáo yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng dất giữa bà T2, ông V và bà L. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

[4] Xét kháng cáo của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1, thấy rằng:

[4.1] Các nguyên đơn bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P, bà Phan Thị Hà T1 về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C ngày 08/3/2023 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

[4.2] Ngày 06/8/2022 ông Nguyễn Văn V, bà Lê Thị T2 và bà Lê Ngọc L có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 công chứng số 7363 quyển số 08/2022TP/CC-SCC/HĐGĐ đối với thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An để vay số tiền 2.000.000.000 đồng, thời gian vay 01 năm, lãi suất 1,5%/tháng, trả lãi hàng tháng. Tuy nhiên, do bà T2 không có tiền trả lãi hàng tháng cho bà L nên bà T2 làm thủ tục chuyển quyền toàn bộ thửa đất số 4375, diện tích 221,6m² và trên đất có nhà cho bà L với giá 2.000.000.000 đồng.

Ngày 8/3/2023, vợ chồng bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V ký với bà bà Lê Ngọc L hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C ký số công chứng 1384 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/3/2023 đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N với giá 2.000.000.000 đồng để cấn trừ số nợ mà bà T2 chưa thanh toán.

Hai bên đã giao nhận tài sản xong. Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa ngày 09/8/2024 thể hiện nhà đất thuộc thửa đất số 4375 do bà Lê Ngọc L đang quản lý sử dụng.

Sau khi bà L được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà L đã thế chấp thửa đất nêu trên Ngân hàng TMCP T8.

[4.3] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L đối với thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An:

Thấy rằng, vào ngày 08/3/2023, tại Văn phòng C bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Ngọc L. Sau khi kiểm tra thấy hồ sơ đầy đủ thủ tục và có sự thống nhất giữa hai bên. Khi kiểm tra người yêu cầu công chứng là ông Nguyễn Văn V, bà Lê Thị T2, bà Lê Ngọc L có đủ năng lực hành vi dân sự, giấy tờ hợp lệ, kiểm tra thông tin trên hệ thống ngăn chặn công chứng và có sự thống nhất giữa hai bên. Tài sản chuyển nhượng là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², loại đất ở nông thôn. Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân xã N vào ngày 11/4/2023 với nội dung: “thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N do bà Lê Ngọc L đang quản lý và sử dụng không có tranh chấp, không bị kê biên thi hành án”.

Theo Chứng thư thẩm định giá ngày 23/8/2024 của Công ty Cổ phần T9 thì giá trị đất và tài sản trên đất là 1.343.846.000 đồng so với giá mà bà T2, ông V đã chuyển nhượng cho bà L là 2.000.000.000 đồng là phù hợp với thực tế giá thị trường tại thời điểm chuyển chuyển nhượng.

Tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật và mục đích nội dung của hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tại thời điểm chuyển nhượng các nguyên đơn (bà H, bà N, bà P, bà T1 chưa có Quyết định/ Bản án có hiệu lực) và các đương sự cũng không yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với tài sản của bà T2, ông V chuyển nhượng cho bà L.

Do đó, có đủ căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V và bà Lê Ngọc L đối với thửa đất số 4375, diện tích 221,6m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp D, xã N có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015.

[5] Sau khi đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 13/4/2023, bà Lê Ngọc L đã thế chấp thửa đất số 4375 cho Ngân hàng TMCP T8 để vay số tiền 300.000.000 đồng theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất HDTC810202355 ngày 13/4/2023 giữa bà L với Ngân hàng được Văn phòng C2 chứng nhận số 1595 quyển số 04/2023TP/CC-SCC/HĐGD.

Việc Ngân hàng TMCP T8 nhận thế chấp tài sản của bà L tuân thủ quy định của pháp luật bao gồm cả việc thẩm định giá tài sản, lập biên bản khảo sát hiện trạng nhà đất và có xác nhận của chủ tài sản. Do đó hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.

[6] Từ những phân tích trên, thực tế ông V, bà T2 đã thế chấp nhà, thửa đất số 4375 cho bà L để nhận tiền. Do không có tiền trả nên phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tại thời điểm ông V, bà T2 chuyển nhượng cho bà L tại Văn phòng Công chứng thì thửa đất số 4375 không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án. Ông V, bà T2 không có thi hành bản án, quyết định nào có hiệu lực pháp luật của Cơ quan có thẩm quyền nên hợp đồng chuyển nhượng giữa bà T2, ông V và bà L và hợp đồng thế chấp giữa bà L và Ngân hàng TMCP T8 là có hiệu lực pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Các nguyên đơn bà H, bà P, bà T1, bà N kháng cáo cho rằng bà T2, ông V chuyển nhượng nhà, đất cho bà L là để tẩu tán tài sản nhưng nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Phạm Thị P1, bà Phan Hà Cẩm T6.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9] Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là 16.000.000 đồng. Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Phạm Thị P1, bà Phan Thị Hà T1 mỗi người phải chịu 4.000.000 đồng. (Đã nộp xong)

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Phạm Thị P1, bà Phan Hà Cẩm T6 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được Tòa án chấp nhận nên bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Căn cứ vào Điều 26 và Điều 35, 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 116, 117, 500, 502 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P, bà Phan Thị Hà T1 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giữa bà Lê Thị T2, ông Nguyễn Văn V với bà Lê Ngọc L được Văn phòng C, ngày 08/3/2023 quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 4375, tờ bản đồ số 02, diện tích 221,6m², loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp D, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Về lệ phí: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là 16.000.000 đồng. Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Phạm Thị P1, bà Phan Hà Cẩm T6 mỗi người phải chịu 4.000.000 đồng. (Đã nộp xong)
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Phạm Thị P1, bà Phan Hà Cẩm T6 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

    Bà H, bà N, bà P1, bà T6 mỗi người đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo các biên lai thu số 0008228, 0008231, 0008230, 0008232 cùng ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa. Sau khi khấu trừ tiền án phí dân sự sơ thẩm với tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà H, bà N, bà P1, bà T6 đã nộp đủ án phí.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Võ Thị Thu H, bà Hà Thị N, bà Ngô Thị P và bà Phan Thị Hà T1 mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi người đã nộp theo biên lai số 0009178, 0009179, 0009180, 0009181 cùng ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 143/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger