|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HS-ST Ngày: 16/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Minh
- Ông Bùi Nhiên
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Nhật P, giới tính: nam.
Sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 7/12.
Nghề nghiệp: Làm nông.
Cha: Nguyễn Nhật L, sinh năm 1973.
Mẹ: Phạm Thị N, sinh năm 1973.
Hiện cả hai cùng ở L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Gia đình có hai chị em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án: Năm 2021, bị toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tuyên 03 năm tù giam về tội “Hiếp dâm”, chấp hành xong hình phạt ngày 03/03/2024, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 01/11/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 206/2013/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù tháng 8/2015, đã được xóa án tích.
- Ngày 13/9/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hiện Nguyễn Nhật P đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận từ ngày 28/8/2024.
Bị hại:
- Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1995
- Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1991
- Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Linh T, sinh năm 2001
- Bà Nguyễn Thị Gái H1, sinh năm 1980
- Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Ông Võ Duy P2, sinh năm 1992.
- Địa chỉ: Khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bị cáo, ông Nguyễn Văn P1, những người còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Nhật P, sinh năm 1996, ở thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là đối tượng có tiền án. Ngày 20/7/2021, P bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 03 năm tù về tội: “Hiếp dâm” tại Bản án số 94/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2024. Trong thời gian chưa được xóa án tích, P tiếp tục phạm nhiều tội mới, cụ thể như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của bạn là Nguyễn Hồng S, sinh năm 1995, ở thôn B, xã B, huyện B. P gọi điện thoại cho S, nói dối là điều khiển xe mô tô vào nhà cho P mượn để P đi đến Ngã ba Hồ, ở thôn C, xã H có công việc. S tin tưởng, đồng ý điều khiển xe mô tô biển số 86B2-620.75 đến cho P mượn. Sau đó, P điều khiển xe đến tiệm C, ở thôn C, xã H. Tại đây, P gặp Nguyễn Linh T, sinh năm 2001, là con của chủ tiệm cầm đồ. P nói với T muốn cầm cố xe mô tô biển số 86B2-620.75, T không biết xe trên là do P phạm tội mà có nên đồng ý cầm cố với số tiền 8.000.000 đồng. Sau đó vài ngày, P đến gặp bà Nguyễn Thị Gái H1, sinh năm 1980, là chủ tiệm cầm đồ Gái Hoài (mẹ của T), yêu cầu cầm cố xe mô tô biển số 86B2-620.75 thêm số tiền 2.000.000 đồng, H1 đồng ý đưa P 2.000.000 đồng. Số tiền cầm cố xe có được, P tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 04 giờ ngày 27/6/2024, P về nhà gặp S, S hỏi xe mô tô đâu thì P nói đã cầm cố, hứa 03 ngày sau sẽ chuộc xe để trả cho S. Đến ngày 13/7/2024, không thấy P trả xe nên S đến Công an xã H trình báo sự việc. Còn xe mô tô biển số 86B2-620.75, quá thời hạn cầm cố, không thấy P đến chuộc, bà H1 đã bán xe mô tô cho ông Võ Duy P2, sinh năm 1992, trú tại khu phố F, phường Đ, thành phố P.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/7/2024, P đi bộ đến nhà anh họ là Nguyễn Văn P1, sinh năm 1991, ở cùng thôn để rủ P1 uống rượu. Đến nơi không thấy có người ở nhà, nhìn thấy xe mô tô biển số 86B3-700.18 của P1 dựng ở phía sau nhà, chìa khóa cắm sẵn trên xe nên P nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. P tìm trong túi quần dài của P1 treo trên võng gần đó, lấy giấy đăng ký xe mô tô để trong ví da rồi lén lút điều khiển xe chạy ra khỏi nhà. P điều khiển xe đến nhà bạn là Võ Văn T1, sinh năm 2000, ở thôn C, xã H, huyện H. Tại đây, P nhờ T1 chạy lên Ngã ba Gộp để chở P về giùm, T1 đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe mô tô 86B3-700.18, còn T1 điều khiển xe của T1 cùng đi với P đến tiệm C. Đến nơi, T1 đứng ngoài đường, P chạy xe mô tô biển số 86B3-700.18 vào gặp bà H1, nói dối là xe mô tô của P mới mua, chưa kịp sang tên, bà H1 tin tưởng nên đồng ý cầm cố xe với số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền cầm cố xe có được, P tiêu xài cá nhân hết.
Thời điểm P điều khiển xe mô tô ra khỏi nhà, anh P1 đang ngồi uống rượu cách đó khoảng 30m nhìn thấy nhưng nghĩ P mượn xe nên không chặn lại. Tuy nhiên, đến tối cùng ngày, P1 không thấy P mang xe về trả, P1 tìm kiếm thì phát hiện mất giấy đăng ký xe mô tô. Biết P là người trộm xe mô tô của mình nên anh P1 đến Công an xã H trình báo sự việc.
Công an xã H tiếp nhận tin báo của S và P1, mời P về trụ sở làm việc, P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ông Võ Duy P2 sau khi mua xe, biết thông tin xe 86B2-620.75 liên quan đến hành vi phạm tội nên đã đem xe đến giao nộp cho Cơ quan công an huyện H. Bà Nguyễn Thị Gái H1 sau khi biết xe mô tô biển số 86B3-700.18 là do P phạm tội mà có nên đã tự nguyện giao nộp cho Công an xã H để xử lý theo quy định.
Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- 01 xe mô tô, biển số 86B3-700.18, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn đen, dung tích xi lanh 149cm³, đăng ký lần đầu 4/2019, xe hoạt động bình thường. Thời điểm định giá ngày 12/7/2024, trị giá là 20.000.000 đồng.
- 01 xe mô tô, biển số 86B2-620.75, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ nâu, dung tích xi lanh 108cm³, đăng ký lần đầu 01/2021, xe hoạt động bình thường. Thời điểm định giá ngày 26/6/2024, trị giá là 22.000.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản định giá là 42.000.000 đồng.
Vật chứng trong vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Văn P1 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đen, biển số 86B3-700.18 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe ViSion, màu đỏ nâu, biển số 86B2-620.75 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy cho bà Huỳnh Thị D (bà ngoại của Nguyễn Hồng S) là những chủ sở hữu.
Về dân sự:
Bà Phạm Thị N (mẹ Nguyễn Nhật P) bồi thường cho bà Nguyễn Thị Gái H1 số tiền 15.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Gái H1 trả lại cho anh Võ Duy P2 số tiền 17.200.000 đồng, là tiền bán xe và bà Huỳnh Thị D hỗ trợ cho anh Võ Duy P2 số tiền 3.500.000 đồng, là tiền Phương đã sửa chữa xe mô tô. Ngoài ra các bên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKSHTB ngày 05/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Nhật P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung tại cáo trạng số 138/CT-VKSHTB ngày 05/11/2024. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau:
Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù đối với hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù đối với hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã nêu. Bị cáo đã ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Nhật P đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, tại thôn L, xã H, bị cáo Nguyễn Nhật P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của Nguyễn Hồng S nên nói dối S cho mượn xe mô tô biển số 86B2-620.75 để đi công việc. Vì tin tưởng nên S đã đồng ý cho mượn, sau khi nhận được xe, bị cáo đã cầm cố lấy số tiền 10.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Trị giá xe mô tô bị chiếm đoạt qua định giá là 22.000.000 đồng.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12/7/2024, tại thôn L, xã H, bị cáo Nguyễn Nhật P đã lợi dụng sơ hở của bị hại Nguyễn Văn P1, đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 86B3-700.18 của anh P1 và đem đi cầm cố lấy số tiền 10.000.000 đồng. Trị giá xe mô tô bị chiếm đoạt qua định giá là 20.000.000 đồng.
Những hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 138/CT-VKSHTB ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
[3]. Bị cáo Nguyễn Nhật P có 01 tiền án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Nhật P đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Những hành vi dùng thủ đoạn gian dối và lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo là hành vi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý và áp dụng những hình phạt nghiêm khắc tương xứng để trừng trị, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời tuyên truyền pháp luật và nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm trong xã hội.
Đối với Nguyễn Linh T và Nguyễn Thị Gái H1 là người cầm thế các xe mô tô từ bị cáo Nguyễn Nhật P nhưng không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Bà Phạm Thị N (mẹ bị cáo Nguyễn Nhật P) đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị Gái H1 số tiền 15.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Gái H1 trả lại cho anh Võ Duy P2 số tiền 17.200.000 đồng, là tiền bán xe và bà Huỳnh Thị D hỗ trợ cho anh Võ Duy P2 số tiền 3.500.000 đồng, là tiền Phương đã sửa chữa xe mô tô. Ngoài ra các bên không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết nữa.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Văn P1 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đen, biển số 86B3-700.18 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy; trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe ViSion, màu đỏ nâu, biển số 86B2-620.75 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy cho bà Huỳnh Thị D (bà ngoại của Nguyễn Hồng S) là những chủ sở hữu, là đúng quy định.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhật P 01 năm tù đối với hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 năm tù đối với hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/8/2024.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Nhật P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/12/2024). Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thu Thúy |
Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 143/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Nhật Phong phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản
