|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 143/2024/HS - ST Ngày 19 - 11 - 2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ngọc H.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Tạ Văn D.
- 2. Ông Lãnh Văn V. Nguyên là giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký phiên toà: Bà La Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Thành Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:143/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2024/QÐST - HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H1, T gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1990 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 02/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Lê Văn T1, sinh năm 1965 (đã chết); Mẹ đẻ: Đỗ Thị T2, sinh năm 1965; Trú tại Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vợ: Vị Thị N, sinh năm 1989; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2012 con nhỏ sinh năm 2016;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại:
- Đặng Văn M, sinh ngày 21/8/2010 (đã chết)
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người đại diện của bị hại:
Ông Đặng Văn T3, sinh năm 1964 (là ông nội) có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Nguyễn Trọng C, sinh ngày 19/7/2012 có mặt.
- Người đại diện của bị hại:
Nguyễn Trọng Đ1, sinh năm 1974 (là bố đẻ) có mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Giáp Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tân trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
- Đặng Trần Bảo P, sinh ngày 17/3/2016. Vắng mặt.
- Người đại diện của bị hại:Trần Thị P1, sinh năm 1987 (Mẹ đẻ) Có mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thu T4 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tân trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1974. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Nguyễn Minh V1, sinh năm 1967. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Nguyễn Thị K, sinh năm 1984 Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Nguyễn Trọng Đ1, sinh năm 1974. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Đặng Văn T3, sinh năm 1964. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Trần Thị D1, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Trần Thị P1, sinh năm 1987. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Trần Đình T5, sinh năm 1980. Vắng mặt.
Địa chỉ: TDP N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-Người làm chứng:
- Hoàng Trung H3, sinh năm 2004. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Hoàng Văn H4, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Trần Tuấn P2, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Địa chỉ: TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người tham gia tố tụng khác:
Trường THCS Q. Do ông Nguyễn Xuân T6 đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
Trường T10. Do ông Diệp Văn H5 đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H1, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố N, Thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cộng tác viên (nhân viên lái xe thu gom, giao hàng) của Bưu điện huyện L, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe hạng C do Sở giao thông tỉnh Bắc Giang cấp ngày 01/8/2016. Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 29/5/2024, H1 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Isuzu, loại xe tải thùng kín màu sơn vàng - trắng biển kiểm soát 98C-125.02, ngồi bên ghế phụ có anh Trần Tuấn P2, sinh năm 1978, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L (nhân viên bốc hàng) đi theo hướng thị trấn C đi xã Q. Khi đi đến đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn T, xã Q, đoạn đường cua (ngoặt) về bên trái, H1 điều khiển xe ô tô theo làn đường bên phải theo chiều đi thì phát hiện cách khoảng 20-25m phía trước có 01 xe đạp điện nhãn hiệu Yamaha màu sơn xanh đen do cháu Nguyễn Trọng C, sinh ngày 19/07/2012 (tại thời điểm C 11 tuổi 10 tháng 10 ngày) trú tại thôn C, xã Q, huyện L đội mũ bảo hiểm, ngồi phía trước là cháu Đặng Văn M, sinh ngày 21/08/2010 (thời điểm 13 tuổi 09 tháng 08 ngày) và cháu Đặng Trần Bảo P sinh ngày 17/03/2016 (thời điểm 08 tuổi 02 tháng 12 ngày) cùng trú tại thôn T, xã Q, huyện L ngồi phía sau không đội mũ bảo hiểm điều khiển ngược chiều, đi bên phải chiều đi của H1. Khi phát hiện, H1 điều khiển xe ô tô đánh sang làn đường bên trái theo chiều đi để tránh. Lúc này C điều khiển xe đạp điện về làn đường bên phải của C, H1 bấm còi xe ô tô, đánh về làn đường bên phải của mình, xe đạp điện đánh về chiều bên phải (chiều đi của H1) dẫn đến xe đạp điện va chạm với phần đầu xe ô tô. Cháu M, C, P bị thương được đưa đi cấp cứu Bệnh viện. Sau đó cháu M tử vong, hai phương tiện bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn: Là đoạn đường có nhiều khúc cua, mặt đường phẳng, trải nhựa áp phan. Mặt đường có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng chia lòng đường làm hai chiều di chuyển. Chiều rộng lòng đường là 8,85m. Tại vị trí xảy ra tai nạn là khúc cua về bên trái (chiều đường T, Quốc lộ C đi UBND xã Q).
* Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- - Ký hiệu số (1), (3) là dấu vết mài trượt mặt đường màu đen;
- - Ký hiệu số (2), (4), (6) là dấu vết cầy xước mặt đường;
- - Ký hiệu số (5) là xe ô tô tải biển số 98C-125.02;
- - Ký hiệu số (7) là xe đạp điện;
- - Ký hiệu số (8) là dấu vết máu;
- - Ký hiệu số (9) là D2, bim bim, chai nước.
* Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:
- - Lấy cột điện lưới ký hiệu 12-I/T2 làm mốc chuẩn.
- - Lấy mép đường bên phải chiều đường T, Quốc lộ C đi UBND xã Q làm chuẩn.
* Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- - Tại vị trí ký hiệu số (1): Là dấu vết mài trượt mặt đường màu đen, kích thước (0,3x12,1)m. Chiều hướng vết theo chiều hướng Quốc lộ C đi UBND xã Q. Đầu vết cách mép chuẩn 3,3m, cách mốc chuẩn 6,2m. Cuối vết tiếp xúc mặt lăn lốp xe ô tô phía trước bên phải, cách mép chuẩn 2,3m.
- - Tại vị trí ký hiệu số (2): Là dấu vết cầy xước mặt đường dạng đứt đoạn kích thước (7,1x0,25)m theo chiều hướng Quốc lộ C đi UBND xã Q. Đầu vết cách mép chuẩn 3,86m, cách mốc chuẩn 6,3m. Cuối vết cách mép chuẩn 3,55m
- - Tại vị trí ký hiệu số (3): Là dấu vết mài trượt mặt đường màu đen kích thước (3,4x0,3)m theo chiều hướng Quốc lộ C đi UBND xã Q. Đầu vết cách mép chuẩn 4,9m, cách mốc chuẩn 6,4m. Cuối vết tiếp xúc mặt lăn lốp xe ô tô phía sau bên trái, cách mép chuẩn 4,95m.
- - Tại vị trí ký hiệu số (4): Là dấu vết cầy xước mặt đường kích thước (1,68x0,25)m. Đầu vết số (4) cách mép chuẩn 4,8m, cách mốc chuẩn 7,65m, cuối vết cách mép chuẩn 4,9m.
- - Tại vị trí ký hiệu số (5): Là xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 trong trạng thái đỗ, đầu xe hướng UBND xã Q, tâm đầu trục bánh trước bên phải xe cách mép chuẩn 2,3m, tâm đầu trục bánh trước bên trái xe cách mép chuẩn 3,55m, cách mốc 12,2m. T7 đầu trục bánh sau bên trái xe cách mép chuẩn 5,5m, cách mốc chuẩn 9m.
- - Tại vị trí ký hiệu số (6): Là dấu vết cầy xước mặt đường dạng cong theo hướng đường Quốc lộ 31 đi UBND xã Q, kích thước (0,15x1)m. Đầu vết cách mép chuẩn 3,1m. Cuối vết tiếp xúc chân chống bên trái xe đạp điện, cách mép chuẩn 2,45m.
- - Tại vị trí ký hiệu số (7): Là xe đạp điện trong trạng thái đổ nghiêng trái, đầu xe hướng mép đường chuẩn. T7 trục bánh trước xe cách mép chuẩn 1,7m, cách trục trước bên phải xe ô tô 0,9m. T7 trục bánh sau xe cách mép chuẩn 2,4m, cách mốc chuẩn 13,7m, cách đầu vết ký hiệu số (6) 1,1m.
- - Tại vị trí ký hiệu số (8): Là dấu vết máu, kích thước (0,35x0,25)m. T7 vết nằm trên mép chuẩn, cách trục sau xe đạp điện 2,8m.
- - Tại vị trí ký hiệu số (9): là vật dụng cá nhân: Dép, bim bim, chai nước, mảnh nhựa vỡ, kích thước trên diện (3,8x2,5)m. T7 vị trí số (9) cách mép chuẩn 1,3m, cách trục sau xe đạp điện 1,9m.
* Phương tiện, tang vật, dấu vết và mẫu so sánh thu được: Tạm giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02; 01 xe đạp điện; Thu mẫu máu tại vị trí số (8).”
Khám nghiệm tử thi đối với Đặng Văn M sinh năm 2010 trú tại thôn T, xã Q, huyện L. Kết quả:
* Khám bên ngoài:
- - Trang phục và các vật mang theo: Mặc ngoài bộ quần áo cộc màu nâu.
- - Nhận dạng tử thi: Được xác định là Đặng Văn M, sinh năm 2010, trú tại thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Chiều dài tử thi: 1,11m; thể tạng thấp bé hơn so với tuổi.
- - Tình trạng tử thi: Đang trong giai đoạn mềm lạnh.
- - Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
- + Vùng đầu: Tóc đen cắt trung bình, hai lỗ tai khô, hai mắt khép không kín, bầm tím xung quanh hốc mắt phải, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông chảy từ trong ra, cửa miệng khép không kín, đầu lưỡi kẹp giữa hai cung răng. Vùng trán phải sát đường giữa có vết thương rách da kích thước (1,5x0,5)cm, sâu sát xương. Vùng đỉnh phải có vết bầm tím da kích thước (2x1,5)cm.
- + Vùng thắt lưng phải và phía trên cột sống sát mông hai bên có vết xây sát da, bầm tím, kích thước (21x9)cm
- + Mặt ngoài cẳng chân phải có diện mài sát da kích thước (6x4)cm.
* Mổ tử thi:
- - Kiểm tra vùng đùi thấy gãy kín phức tạp xương đùi phải, vết thương vùng trán phải thấy dập rách lóc tổ chức dưới da đầu xunh quanh vết thương, đường nứt vỡ xương hộp sọ vùng trán dài 1,5cm, qua đó có máu không đông chảy ra.
- - Chọc hút bằng bơm kim tiêm tại hõm ức thu mẫu máu.
* Các mẫu thu để giám định: Thu mẫu máu tử thi.”
Khám phương tiện, kết quả:
* Xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02:
- Dấu vết trên phương tiện:
- + Kính chắn gió phía trước vỡ phức tạp kích thước (130x80)cm, có vết lõm chiều từ trước về sau;
- + Nắp capo phía trước cong vênh, biến dạng chiều từ trước ra sau, có vết trượt màu đen, kích thước (80x35)cm;
- + Ba đờ sốc phía trước (phần bên phải theo thân xe) có vết mài trượt xước sơn và kim loại, bám dính chất màu đen, kích thước (53x17)cm, phần đầu cần cứu hộ bám dính chất màu đen;
- + Biển số phía trước cong vênh, biến dạng, có vết mài trượt xước sơn và kim loại, kích thước (33x17)cm;
- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hãm, đèn, còi, cần gạt mưa hoạt động bình thường.
* Xe đạp điện nhãn hiệu Yamaha, màu sơn Xanh Đen:
- Dấu vết trên phương tiện:
- + Giỏ nhựa phía trước vỡ phức tạp, phần giá đỡ bị cong vênh chiều từ dưới lên trên, từ trước về sau;
- + Đầu tay nắm bên phải có vết mài trượt xước nhựa màu đen, kích thước (3x1)cm;
- + Ốp nhựa hộp báo pin phần tay lái bên phải có vết trượt xước nhựa và sơn, kích thước (8x3,5)cm;
- + Đầu tay phanh bên phải có vết mài trượt xước kim loại bám dính chất màu vàng dạng sơn xe, kích thước (1x1)cm;
- + Càng xe phía trước cong vênh, biến dạng, mặt ngoài càng bên phải có vết mài trượt sơn và kim loại, bám dính chất màu vàng dạng sơn, kích thước (15x4)cm;
- + Mặt bên phải vành bánh trước và lốp xe có vết mài trượt cao su, bám dính chất màu vàng dạng sơn, có bám dính mảnh nhựa sơn màu vàng, kích thước (15x3)cm;
- + Mặt bên phải yên xe có vết mài trượt, bám dính chất màu vàng, kích thước (8x5)cm.
- + Khung kim loại bên phải phía sau vết mài trượt xước sơn, gãy kim loại, kích thước (35x2)cm, bám dính chất màu vàng, đen;
- + Ốp nhựa bình ắc quy bên phải vỡ, vết vỡ dài 25cm;
- + T8 kim loại đỡ yên người ngồi phía sau bên phải có vết mài trượt kim loại, sơn bám dính chất màu vàng dạng sơn.
- + Ốp nhựa sườn xe bên phải vỡ, rơi mất;
- + Giá để chân bên phải người ngồi sau có vết mài trượt kim loại bám dính chất màu vàng dạng sơn, kích thước (3x1)cm;
- + Đầu bàn đạp bên trái có vết cày xước nhựa, kích thước (5x2)cm;
- + Ốp nhựa bình ắc quy bên trái có vết cày xước nhựa, kích thước (10x3)cm;
- + Chân chống xe gắn ở giá để chân bên trái người ngồi sau có vết mài trượt kim loại, bám dính chất màu trắng, kích thước (18x2)cm.
- Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống điều khiển, hãm hoạt động bình thường.
- Mũ bảo hiểm màu đen có dòng chữ “BLACK PATHER” vỡ.
Kết quả đo nồng độ cồn của Lê Văn H1 là 0,000mg/l khí thở và test nhanh ma túy kết quả âm tính.
Lê Văn H1 giao nộp 01 giấy phép lái xe hạng C, 01 đăng ký xe ô tô số 018887 biển số 98C-12502; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc tự nguyện TNDS chủ xe ô tô biển số 98C-125.02; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông đường bộ số EB 0839488. (Bản chính) để phục vụ công tác điều tra.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của anh Hoàng Văn H4, sinh năm 1978 trú tại thôn T, xã Q, huyện L 01 đoạn video liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 29/5/2024 và được sao lưu video vào đĩa DVD để phục vụ điều tra.
Tại giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đ2 - Sở Y đối với Đặng Trần Bảo P thể hiện: Lý do vào viện tai nạn giao thông. Chuẩn đoán: Chấn thương sọ não. Điều trị Nội khoa. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Tỉnh, tiếp xúc chậm, G điểm; Xây xát rải rác nhiều vị trí; Sưng nề vùng đỉnh – chẩm trái; CT: hình ảnh ổ đụng dập, tụ máu nhỏ trong nhu mô não vùng trán và thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng cấp lớp mỏng kèm tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương trái, chảy máu khoang dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng cấp lớp mỏng vùng lều tiểu não và liềm đại não, rạn xương thái dương trái, đường vỡ xương kèm giãn nhẹ đường khớp chẩm- đỉnh trái, sưng phần mềm vùng thái dương và đỉnh trái. Tình trạng thương tích hiện tại: Chuyển Bệnh viện V2 điều trị tiếp.
Tại giấy chứng nhận thương tích của Trung tâm y tế huyện L đối với Nguyễn Trọng C thể hiện: Lý do vào viện: Tai nạn giao thông. Chuẩn đoán vết thương hở cằm do tai nạn giao thông. Điều trị khâu phục hồi vết thương, điều trị nội khoa. Tình trạng thương lúc vào viện: cằm phải có vết thương rách da dài 1,5cm sâu đến xương hàm, gò má phải hốc mắt phải sưng nề tím đen. Tình trạng thương tích lúc ra viện: Vết thương liền hết sưng đau.
Kết quả trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của Đặng Văn M. Tại bản kết luận giám định số 1349 ngày 25/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“1. Các kết quả chính:
- - Trên cơ thể Đặng Văn M có các tổn thương:
- + Tổn thương bầm tím, mài sát, sây sát, rách da tại vùng đầu, lưng, chân phải trong đó vết thương dập rách da vùng chán phải sâu sát xương.
- + Hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông chảy từ trong ra. Bầm tím xung quanh hốc mắt phải. Gãy kín phức tạp xương đùi phải.
- - Giải phẫu vết thương vùng trán phải: Dập rách, lóc tổ chức dưới da đầu xung quanh vết thương. Đường nứt vỡ xương hộp sọ vùng chán qua đó có máu không đông chảy ra.
- 2. Kết luận: Nguyên nhân chết của Đặng Văn M do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, gãy xương đùi phải. Cơ chế hình thành dấu vết: Tổn thương bầm tím, mài sát, sây sát, rách da hình thành do tác động với vật tày, bề mặt không nhẵn, theo nhiều chiều hướng, diện tiếp xúc khác nhau tạo nên. Trong đó tổn thương vỡ xương hộp sọ, gãy xương đùi phải được hình thành do tiếp xúc với vật tày có lực tác động mạnh, trực tiếp tạo nên”.
Kết quả trưng cầu giám định Máu. Tại Bản kết luận giám định số 1482/KL-KTHS ngày 05/07/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
“5.1 Trên mẫu được niêm phong trong phong bì ghi “Mẫu thu tại vị trí số (8) gửi giám định có máu người, nhóm máu B.
5.2 Mẫu máu tử thi Đặng Văn M1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1” gửi giám định thuộc nhóm máu B” (BL 98-105)
Kết quả trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Trọng C và Đặng Trần Bảo P. Tại bản kết luận giám định số 2470, 2471 cùng ngày 19/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận.
- Đối với Nguyễn Trọng C:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Thương tích vết sẹo vùng cảm phải kích thước nhỏ: 3%,
- + Thương tích chạm thương vùng gò má phải không còn dấu vết: 0%.
- + Thương tích chạm thương hố mắt hai bên không còn dấu vết: 0%,
2. Kết luận; Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Trọng C tại thời điểm giám định là: 3% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác: Cơ chế, vật, chiều hướng gây thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng.
- Đối với thương tích của Đặng Trần Bảo P:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Thương tích chạm thương vùng đỉnh chẩm trái không còn dấu vết +ổ dụng dập, tụ máu nhỏ trong nhu mô não vùng trán và thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng cấp lớp mỏng kèm tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương trái, chảy máu khoang dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng cấp lớp mỏng vùng lều tiểu não và liềm đại não, rạn xương thái dương trái, đường vỡ xương kèm giãn nhẹ đường khớp chẩm- đỉnh trái + Kết quả phiếu chụp cắt lớp vi tính: Hiện tại không thấy bất thương nội sọ. Vỡ rạn xương thái dương trái sát khớp thái dương chẩm trái, đường vỡ xương cạnh khớp chẩm đỉnh trái + Điện não đồ: Hoạt động dạng chấn động não: 37%.
- + Thương tích vết sẹo vùng thắt lưng trái kích thước trung bình: 2%.
- + Thương tích chạm thương mặt trong và mặt ngoài cẳng tay phải không còn dấu vết: 0%.
- + Thương tích chạm thương mu bàn tay trái không còn dấu vết: 0%.
- + Thương tích chạm thương mặt ngoài đùi trái và mặt trong đùi trái không còn dấu vết: 0%.
- + Thương tích vết sẹo nông mu chân trái kích thước trung bình: 2%.
- + Thương tích vết biến đổi sắc da mặt ngoài cẳng chân trái: 0,5%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Trần Bảo P tại thời điểm giám định là: 40% (Bốn mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
3. Kết luận khác: Cơ chế, vật, chiều hướng gây thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng.
Kết quả trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết. Tại bản kết luận giám định số 1531 ngày 12/7/2024 của Phòng K1- Công an tỉnh B kết luận:
“1. Dấu vết mài trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải ở bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 (ảnh 7 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt cao su trượt xước kim loại găm kẹp mảnh sơn vàng hướng từ mặt lăn vào tâm trục, từ phải sang trái ở bên phải má lốp và vành bánh trước của xe đạp điện không biển kiểm soát (ảnh 11 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- + Dấu vết lõm, trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải ở mặt ngoài ốp kim loại đầu xe ô tô biển kiểm soát 98C- 125.02 (ảnh 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết mài trượt cao su, hướng từ phải sang trái, từ trước ra sau ở đầu ngoài tay nắm bên phải của xe đạp điện không biển kiểm soát (ảnh 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- + Dấu vết hằn lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải ở góc dưới bên trái biển số trước và mặt ngoài ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 (ảnh 8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu vàng, hướng từ trước ra sau từ phải sang trái ở đầu ốc cố định và thanh kim loại cố định bên phải gác ba ga của xe đạp điện không biển kiểm soát (ảnh 13, 14 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- 2. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 và xe đạp điện không biển kiểm soát trên mặt đường, trong khoảng từ trước điểm đầu dấu vết cây xước ký hiệu số 6 đến điểm cuối dấu vết mài trượt màu đen ký hiểu số 1, số C, không xác định được thuộc phần đường bên phải hay bên trái theo hướng đường QL 31 đi UBND xã Q.
- 3. Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm trên hai phương tiện và hiện trường, xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 chuyển động theo hướng QL 31 đi UBND xã Q va chạm với xe đạp điện không biển kiểm soát chuyển động ngược chiều (đầu xe chếch hướng từ trái sang phải theo chiều chuyển động của xe ô tô).
- 4. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn dấu vết cơ học.
Kết quả định giá tài sản thiệt hại. Tại bản kết luận giám định số 70, 71 ngày 15/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 giá trị thiệt hại là 8.000.000 đồng; Thiệt hại xe đạp điện xác định thời điểm xảy ra tai nạn là 970.000 đồng.
Kết quả tra cứu vật chứng xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02. Phiếu trả lời xác minh xe là Chủ xe Bưu điện tỉnh Bắc Giang - TCT BĐVN địa chỉ 151 H, Hoàng Văn T9, Bắc Giang. Kết quả không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng.
Về nguồn gốc xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 chủ sở hữu là Bưu điện tỉnh B. Quá trình điều tra xác định năm 2019 Bưu điện tỉnh Bắc Giang giao xe ô tô cho Bưu điện huyện L quản lý và sử dụng. Từ năm 2021, Bưu điện thuê Lê Văn H1 là cộng tác viên (nhân viên lái xe thu gom hàng) hàng ngày tại huyện L. Đối với xe đạp điện nhãn hiệu Yamaha màu sơn xanh đen là của ông Nguyễn Minh V1 sinh năm 1967 trú tại thôn C, xã Q, huyện L. Năm 2018 ông V1 cho anh Nguyễn Trọng Đ1 làm phương tiện sử dụng. Ngày 29/5/2024 anh Đ1 không biết việc C sử dụng xe đạp điện. Do đó không có căn cứ để xử lý Nguyễn Trọng Đ1 về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên là do Lê Văn H1, Nguyễn Trọng C điều khiển xe mô tô, xe đạp điện đến đoạn đường cua (ngoặt) không chú ý quan sát, không giảm tốc độ dẫn đến va chạm, hậu quả: gây nên cái chết cho cháu M, C bị thương 3%, P bị thương tích 40%, gây hư hỏng 02 phương tiện. Hành vi trên của H1 đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Điều 4, 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019.
Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về quy tắc chung:
“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”
Khoản 3 Điều 4 Thông tư 31 Nguyên tắc chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách khi điều khiển phương tiện trên đường bộ:
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải điều khiển xe chạy với tốc độ phù hợp điều kiện của cầu, đường, mật độ giao thông, địa hình, thời tiết và các yếu tố ảnh hưởng khác để bảo đảm an toàn giao thông.
Khoản 8 Điều 5 Thông tư 31 các trường hợp phải giảm tốc độ:
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
8. Tránh xe chạy ngược chiều hoặc khi cho xe chạy sau vượt, khi có tín hiệu xin đường, tín hiệu khẩn cấp của xe đi phía trước”.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản cáo trạng số: 1143/ CT - VKS ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với bị cáo Lê Văn Hải về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án 19/11/2024. Giao bị cáo về UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong với đại diện bị hại. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Lê Văn H1 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] tên Lê Văn H1, sinh ngày 16/02/1990 nơi cư trú: xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên hiện đang được tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự.
* Án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ và thừa nhận cáo trạng truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.
Người đại diện hợp pháp cho các bị hại xác nhận bị cáo và đại diện hợp pháp cho các bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong nên không đề nghị Tòa án giải quyết về phần trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Về hình phạt, do bị cáo đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, lỗi xảy ra do lỗi hỗn hợp nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 18 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo về cải tạo, giáo dục tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ và nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do vậy đủ căn cứ xác định khoảng 13 giờ 45 phút ngày 29/5/2024, Lê Văn H1, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Isuzu, loại xe tải thùng, biển kiểm soát 98C-125.02 đi đường liên xã Q theo hướng thị trấn C đi Ủy ban nhân dân xã Q. Khi đi đến địa phận thôn T, xã Q, huyện L đoạn đường cua (ngoặt) về phía bên trái, H1 điều khiển xe ô tô không đi đúng làn đường, không chú ý quan sát và giảm tốc độ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, Điều 4, 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT dẫn đến va chạm với xe đạp điện nhãn hiệu Yamaha màu sơn xanh trắng do cháu Nguyễn Trọng C, sinh năm 2012 trú tại thôn C, xã Q, huyện L chở Đặng Văn M sinh năm 2010 và Đặng Trần Bảo P sinh năm 2016 cùng trú tại thôn T, xã Q, huyện L điều khiển ngược chiều. Hậu quả cháu M tử vong, cháu P bị thương tích tỷ lệ 40% (Bốn mươi phần trăm), Nguyễn Trọng C bị thương tích tỷ lệ 03% (ba phần trăm), hai phương tiện bị hư hỏng, tổng thiệt hại là 8.970.000 đồng.
Vì vậy bản cáo trạng số 143/CT - VKS ngày 01 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố đối với bị cáo Lê Văn H1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn công cộng tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông. Xét tình hình tai nạn giao thông hiện nay ở địa phương cha có chiều hớng giảm. Nguyên nhân do ý thức của ngời tham gia giao thông không chấp hành đúng luật giao thông đờng bộ đã gây thơng tật, mất sức lao động, gây nên những cái chết thơng tâm cho những ngời tham gia giao thông nên phải ra một bản án nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Được đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo đợc hởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, sự việc xảy ra do bị hại cũng có lỗi một phần, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Xét bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN - TAND TC ngày 07/9/2022. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo về cải tạo, giáo dục tại địa phương như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng của vụ án: Ngày 16/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á (giám đốc Bưu điện H) 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-125.02 và giấy tờ liên quan; Trả lại cho anh Nguyễn Trọng Đ1 01 xe đạp điện nhãn hiệu Yamaha màu sơn xanh đen. Chị Á, anh Đ1 đã nhận đủ không có yêu cầu gì. Nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Lê Văn H1, hiện đang được tạm giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn cần trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 12/11/ 2024 bị cáo Lê Văn H1 và đại diện các bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường cụ thể: Bồi thường cho cháu Nguyễn Trọng C số tiền 10.000.000 đồng; cháu Đặng Trần Bảo P số tiền 60.000.000 đồng; gia đình của cháu Đặng Văn M số tiền 130.000.000đồng. Các bên không có ý kiến gì thêm về phần bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, người đại diện cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/11/2024. Giao bị cáo về UBND xã thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Lê Văn H1 theo biên bản giao vật chứng ngày 12/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại, người đại diện cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 143/2024/HS - ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 143/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H - Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
