Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/HS-ST

Ngày 14-11-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
  • Các Hội Thẩm nhân dân:
    • Bà Trần Thị Trúc Hoa
    • Ông Phạm Anh Tuấn
  • Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đình Đ, sinh ngày 26 tháng 01 năm 1991 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Số A TDP B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình T và bà Vũ Thị T1; vợ là Nguyễn Thị H, có 01 con, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 06/06/2024 đến ngày 12/06/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Đỗ Văn H1, sinh ngày 29 tháng 4 năm 2003 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn K và bà Đặng Thị H2; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 06/06/2024 đến ngày 12/06/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Đỗ Văn M, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2003 tại Hải Phòng, nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đỗ Văn T2 và bà Trịnh Thị H3; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 14/08/2024 đến ngày 20/08/2024 chuyển tạm giam, đến ngày 12/9/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Đặng Bá T3, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Tiến A, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  3. Anh Trần Việt H4, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  4. Anh Trần Đình H5, sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  5. Anh Phạm Anh T4, sinh năm 2003; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2023, Nguyễn Đình Đ được một người đàn ông (chưa xác định được lý lịch) sử dụng tài khoản Telegram “Phạm Phạm " kết bạn với Đ và rủ Đ mở các tài khoản ngân hàng để bán cho người này, Đ đồng ý. Đ đã sử dụng Căn cước công dân và mua 01 sim điện thoại đăng ký tên Nguyễn Đình Đ, để mở trực tuyến 06 tài khoản qua các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại, rồi chuyển các thông tin cho người đàn ông trên qua ứng dụng T5 và hưởng lợi số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi chuyển thông tin xong Đ đã vứt sim đi không sử dụng. Do thời gian đã lâu nên Đ không nhớ được đã mở tài khoản ở những ngân hàng nào và số sim điện thoại đã đăng ký mua.

Đến tháng 8/2023, Nguyễn Đình Đ rủ Đỗ Văn M mở các tài khoản ngân hàng để bán lấy tiền, nếu M mở và bán 05 tài khoản ngân hàng cho Đ thì M sẽ được trả số tiền 3.500.000 đồng, M đồng ý. Sau đó, M đã mua 01 thẻ sim điện thoại và mở 05 tài khoản ngân hàng T7 rồi đưa lại thông tin các tài khoản cùng sim điện thoại cho Đ. Sau đó, Đ đã bán 05 tài khoản ngân hàng của M cho người đàn ông có tài khoản T5 “Phạm Phạm " và nhận từ người này số tiền là 3.500.000 đồng. Do M là bạn của Đ nên Đ đã đưa toàn bộ số tiền này cho M và vứt thẻ sim của M đi, không hưởng lợi từ việc này.

Khoảng một tuần sau, Đ rủ M tìm thêm một số người để mở tài khoản ngân hàng bán lại cho Đ và M sẽ được Đ trả hoa hồng (tiền công), với 10 tài khoản ngân hàng thì sẽ được trả 6.000.000 đồng, M đồng ý. M đã rủ bạn là Đỗ Văn H1 đi mở tài khoản và bán lại cho M. Sau khi H1 đồng ý, M dẫn H1 đến các chi nhánh, phòng giao dịch ngân hàng trên đường T, Tô H6 và Lê Hồng P để mở tài khoản, đồng thời bảo H1 mua một sim điện thoại để phục vụ việc mở tài khoản ngân hàng. Đỗ Văn H1 đã mở 10 tài khoản tại các ngân hàng gồm:

  • Ngân hàng TMCP N (V), số tài khoản: 9988492790.
  • Ngân hàng TMCP H7 (M1), số tài khoản: 02101012531305.
  • Ngân hàng TMCP K1, số tài khoản: 0000122649.
  • Ngân hàng TMCP B (BV B1), số tài khoản: 8017041354341.
  • Ngân hàng TMCP A1 (A2), số tài khoản: 1321011082018.
  • Ngân hàng TMCP P1 (O), số tài khoản: 0988492790.
  • Ngân hàng TMCP Q (N1), số tài khoản: 100012604879.
  • Ngân hàng TMCP V1 (V2), số tài khoản: 000003324477.
  • Ngân hàng TMCP Q1 (V3), số tài khoản: 988492790.
  • Ngân hàng TMCP S (S1), số tài khoản: 0988492790.

Sau khi hoàn thành xong việc mở tài khoản ngân hàng, H1 và M đi về khu vực nhà thi đấu ở Ngã 5 K, quận K, thành phố Hải Phòng để đưa sim điện thoại và thông tin 10 tài khoản ngân hàng trên cho Đ. Đ kiểm tra thông tin rồi chuyển cho người có tài khoản T5 “Phạm Phạm " và người này chuyển số tiền là 6.000.000 đồng cho Đ. Do trước đó, H1 có hứa hẹn nếu mở các tài khoản ngân hàng và bán được thì sẽ giới thiệu thêm nhiều người khác đi mở và bán cho Đ và M, nên sau khi nhận tiền từ tài khoản Telegram tên “Phạm Phạm ", Đ đã đưa toàn bộ số tiền trên để trả công cho M, còn M chuyển toàn bộ số tiền này cho H1 và bảo H1 tìm thêm một số người khác mở tài khoản ngân hàng để bán lại cho Đ và M.

Đến tháng 4/2024, Đỗ Văn H1 đã dẫn một số người đi mở các tài khoản ngân hàng, sau đó bán cho Nguyễn Đình Đ và Đỗ Văn M gồm:

  1. Đặng Bá T3, sinh năm 2005, nơi cư trú tại: thôn C, xã C, huyện A, Hải Phòng mở 06 tài khoản ngân hàng với thông tin của T3 tại các ngân hàng:
    • Ngân hàng TMCP Đ1 (B2), số tài khoản: 8852073219.
    • Ngân hàng TMCP C (V4), số tài khoản: 109881627742.
    • Ngân hàng TMCP N (V), số tài khoản: 9348970215.
    • Ngân hàng TMCP X (E), số tài khoản: 100185038.
    • Ngân hàng TMCP Đ2, số tài khoản: 109002436047.
    • Ngân hàng TMCP K1, số tài khoản: 0348970125.

    Sau khi nhận 06 tài khoản ngân hàng trên cùng sim điện thoại đăng ký thông tin của T3 thì H1 đã chuyển 06 tài khoản trên cho Đ để Đ bán lại các tài khoản này cho người có tài khoản T5 “Phạm Phạm " và nhận về số tiền 5.000.000 đồng. Đ trả cho M số tiền 4.000.000 đồng thì M trả cho H1 3.000.000 đồng. Sau đó, H1 trả cho Đặng Bá T3 số tiền 2.500.000 đồng.

  2. Nguyễn Tiến A, sinh năm 2006, nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện A, Hải Phòng mở 06 tài khoản ngân hàng với thông tin của Tiến A tại các ngân hàng:
    • Ngân hàng B2, số tài khoản: 8822100476
    • Ngân hàng V4, số tài khoản: 101881646294.
    • Ngân hàng S1, số tài khoản: 0766495082.
    • Ngân hàng E, số tài khoản: 100185633.
    • Ngân hàng A2, số tài khoản: 1321011607015.
    • Ngân hàng K1, số tài khoản: 0766495082.
  3. Trần Việt H4, sinh năm 2005, nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng mở 06 tài khoản ngân hàng với thông tin của H4 tại các ngân hàng:
    • Ngân hàng B2, số tài khoản: 8892133386
    • Ngân hàng V4, số tài khoản: 101881673255
    • Ngân hàng S1, số tài khoản: 0326355170
    • Ngân hàng E, số tài khoản: 100186457
    • Ngân hàng V3, số tài khoản: 326355170.
    • Ngân hàng A2, số tài khoản: 1321011615017.
  4. Trần Đình H5, sinh năm 2004, nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện A, Hải Phòng mở 05 tài khoản ngân hàng với thông tin của H5 tại các ngân hàng:
    • Ngân hàng B2, số tài khoản: 8852113352
    • Ngân hàng V4, số tài khoản: 101881656315
    • Ngân hàng V, số tài khoản: 9782166159
    • Ngân hàng S1, số tài khoản: 0782166159
    • Ngân hàng E, số tài khoản: 100186016.
  5. Phạm Anh T4, sinh năm 2003, trú tại: Thôn C, xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng mở 06 tài khoản ngân hàng với thông tin của T4 tại các ngân hàng:
    • Ngân hàng B2, số tài khoản: 8862144363.
    • Ngân hàng V4, số tài khoản: 100881682695.
    • Ngân hàng S1, số tài khoản: 1907200303.
    • Ngân hàng TMCP Đ2, số tài khoản: 101002450276.
    • Ngân hàng V3, số tài khoản: 190703333.
    • Ngân hàng A2, số tài khoản: 1321011619096.

Sau khi nhận 23 thông tin tài khoản ngân hàng trên cùng sim điện thoại đăng ký thì H1, M và Đ đã bán các tài khoản này cho người có tài khoản Telegram “Phạm Phạm " được số tiền 19.500.000 đồng. Đ đã trả cho M số tiền 15.500.000 đồng, M trả cho H1 số tiền 10.250.000 đồng. H1 đã trả tiền cho những người bán các tài khoản ngân hàng, cụ thể: Trả cho Nguyễn Tiến A, Phạm Anh T4, Trần Việt H4 mỗi người số tiền 2.500.000 đồng và trả cho Trần Đình H5 số tiền 1.650.000 đồng.

Sau mỗi lần bán các thông tin tài khoản ngân hàng đã thu mua được cho người có tài khoản Telegram “Phạm Phạm ", Đ đều vứt các sim điện thoại đã nhận từ người bán đi mà không sử dụng. Người có tài khoản Telegram “Phạm Phạm " sẽ hẹn Đ giao dịch mua bán các thông tin tài khoản của người khác tại một số địa điểm ở khu vực trung tâm thành phố và có người sẽ đến đưa tiền cho Đ. Các lần giao dịch đều là một địa điểm khác nhau và một người khác nhau nên Đ không nhớ được địa chỉ cụ thể.

Tại Cáo trạng số 149/CT-VKSKA ngày 30/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn M và Đỗ Văn H1 về tội Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng theo khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến gì về bản cáo trạng.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:

Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 291, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn M, Đỗ Văn H1 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn H1).

Đề nghị xử phạt:

  1. Bị cáo Nguyễn Đình Đ: 12 – 15 tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ.
  2. Bị cáo Đỗ Văn M: 12 - 15 tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ, tạm giam.
  3. Bị cáo Đỗ Văn H1: 09 - 12 tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

Phạt tiền: Áp dụng khoản 4 Điều 291 Bộ luật Hình sự, phạt tiền mỗi bị cáo 10.000.000₫ sung ngân sách nhà nước.

Về tiền thu lợi bất chính: Các bị cáo đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính các bị cáo đã nộp.
  • Trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền đã nộp tại cơ quan công an.
  • Huỷ bỏ các lệnh phong toả tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng tại các ngân hàng; tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền còn lại (nếu có) tại các tài khoản, sau đó đề nghị các ngân hàng thực hiện việc đóng các tài khoản ngân hàng trên.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của kiểm sát viên. Tại phần nói lời sau cùng các bị cáo không ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, xét việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

- Về nội dung:

[3] Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người liên quan, phù hợp với kết quả xác minh danh sách các tài khoản ngân hàng các bị cáo đã bán và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 4/2024, các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn M và Đỗ Văn H1 đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác thu lợi bất chính số tiền 30.500.000 đồng, trong đó: Bị cáo Đ và M mua bán trái phép 39 thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác, bị cáo H1 mua bán trái phép 29 thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn M và Đỗ Văn H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” theo quy định tại Điều 291 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn M và Đỗ Văn H1 đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác thu lợi bất chính số tiền 30.500.000 đồng, trong đó: Các bị cáo Đ và M mua bán trái phép 39 thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác, bị cáo H1 mua bán trái phép 29 thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác nên các bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 291 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, xâm phạm quyền được bảo vệ về bí mật thông tin của cá nhân, xâm phạm trật tự, an toàn trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và tạo điều kiện cho việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Cá bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng bị pháp luật cấm nhưng phạm tội do cố ý, vì mục đích vụ lợi cho bản thân nên phạm tội. Do vậy cần xử phạt các bị cáo nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về vai trò:

Vụ án có đồng phạm trong đó: Bị cáo Đ có vai trò cao nhất là người rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ cùng với bị cáo M mua bán 39 thông tin về tài khoản ngân hàng nên vai trò của bị cáo Đ là cao nhất, sau đó đến bị cáo M. Bị cáo H1 là người có vai trò thấp nhất: Sau khi được Đ, M khởi xướng, rủ rê thì H1 đã trực tiếp rủ các đối tượng khác lập 29 tài khoản ngân hàng để bán lại cho M, Đ.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả ba bị cáo; các bị cáo Đ, H1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[9] Về hình phạt:

Căn cứ về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đối với cả ba bị cáo, bị cáo Đ có vai trò cao hơn bị cáo M nhưng lại nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn nên mức hình phạt của bị cáo Đ, M là ngang nhau, hình phạt của bị cáo H1 là thấp nhất.

[10] Về hình phạt bổ sung:

Ngoài hình phạt chính, cần áp dụng khoản 4 Điều 291 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, cụ thể: Phạt tiền mỗi bị cáo Đ, M, H1 15 triệu đồng.

[11] Về thu lợi bất chính:

Bị cáo H1 thu lợi bất chính số tiền 7.600.000đ, bị cáo M thu lợi bất chính 6.250.000đ, bị cáo Đ thu lợi bất chính 5.000.000đ, các bị cáo đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính tại giai đoạn điều tra.

[12] Xử lý vật chứng:

[12.1] Đối với số tiền 30.350.000đ: Trong đó có 9.750.000đ bị cáo M giao nộp; 8.100.000đ bị cáo H1 giao nộp, 5.000.000đ bị cáo Đ giao nộp, 2.500.000₫ anh Nguyễn Tiến A nộp (bố đẻ nộp thay), 2.500.000₫ anh Đặng Bá T3 giao nộp (bố đẻ nộp thay), 2.500.000₫ anh Phạm Anh T4 giao nộp, xét:

  • Đối với số tiền 9.750.000đ bị cáo M giao nộp: cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 6.250.000đ là tiền bị cáo M thu lợi bất chính, số tiền còn lại là 3.500.000đ được đối trừ với tiền phạt đối với bị cáo M.
  • Đối với số tiền 8.100.000đ bị cáo H1 giao nộp: cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 7.600.000₫ là tiền bị cáo H1 thu lợi bất chính, số tiền còn lại là 500.000đ được đối trừ với tiền phạt đối với bị cáo H1.
  • Đối với số tiền 5.000.000đ bị cáo Đ giao nộp là tiền bị cáo Đ thu lợi bất chính cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền anh Tiến A, anh T3, anh T4 đã giao nộp do tại các Quyết định xử phạt hành chính của Chủ tịch UBND quận K đã buộc anh Tiến A, anh T3, anh T4 mỗi người nộp lại 2.500.000đ là tiền thu lợi bất chính, nên không xem xét, yêu cầu những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp lại tiền thu lợi bất chính trong vụ án này, cần trả lại cho những người liên quan số tiền đã nộp.

Như vậy, đối với số tiền 30.350.000đ cần trả lại 2.500.000đ cho anh Nguyễn Tiến A, 2.500.000đ cho anh Đặng Bá T3, 2.500.000đ cho anh Phạm Anh T4, số tiền còn lại là 22.850.000đ cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[12.2] Đối với các lệnh phong toả các tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng tại các Ngân hàng cần huỷ bỏ. Do các tài khoản bị phong toả của các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những tài khoản các bị cáo đã mua bán trái phép, vi phạm quy định về việc mở, quản lý, sử dụng tài khoản ngân hàng, chủ các tài khoản đều xác định không sử dụng các tài khoản nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền còn lại tại các tài khoản ngân hàng, sau đó đề nghị các ngân hàng thực hiện việc đóng các tài khoản trên.

[13] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

[14] Về các vấn đề khác:

Đối với 06 tài khoản Nguyễn Đình Đ bán cho người sử dụng tài khoản Telegram “Phạm Phạm " và 05 tài khoản Nguyễn Đình Đ mua của Đỗ Văn M: do Đ, M mở tài khoản online không nhớ tên ngân hàng và số tài khoản đã mở nên chưa xác định được thông tin tài khoản ngân hàng đã mua bán. Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đối với Đặng Bá T3, Phạm Anh T4, Nguyễn Tiến A, Trần Đình H5 và Trần Việt H4. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã gửi Công văn, đề nghị UBND quận K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bán thông tin tài khoản ngân hàng theo quy định tại điểm c khoản 15 Điều 1 Nghị định 143/NĐ-CP ngày 31/12/2021.

Đối với người sử dụng tài khoản Telegram “Phạm Phạm " hiện chưa xác định được lý lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 291, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn M, Đỗ Văn H1 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn H1).

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình Đ, Đỗ Văn M và Đỗ Văn H1 đồng phạm tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng”.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Nguyễn Đình Đ: 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ từ ngày 06/06/2024 đến ngày 12/06/2024. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là: 14 (mười bốn) tháng 09 (chín) ngày.
  2. Phạt tiền bị cáo: 15.000.000đ.

  3. Bị cáo Đỗ Văn M: 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ, tạm giam từ 14/08/2024 đến ngày 12/09/2024. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là: 12 (mười hai) tháng.
  4. Phạt tiền bị cáo: 15.000.000đ, trừ số tiền 3.500.000đ bị cáo đã nộp theo Uỷ nhiện chi ngày 04/11/2024 giữa Công an quận K với Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, bị cáo còn phải nộp 11.500.000đ.

  5. Bị cáo Đỗ Văn H1: 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ từ ngày 06/06/2024 đến ngày 12/06/2024. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là: 11 (mười một) tháng 09 (chín) ngày.
  6. Phạt tiền bị cáo: 15.000.000đ, trừ số tiền 500.000đ bị cáo đã nộp theo Uỷ nhiện chi ngày 04/11/2024 giữa Công an quận K với Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, bị cáo còn phải nộp 14.500.000đ.

Miễn khấu trừ thu nhập cho 03 bị cáo.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận K, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án.

Giao các bị cáo Đỗ Văn M, Đỗ Văn H1 cho UBND xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Giao bị cáo Nguyễn Đình Đ cho UBND phường T, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án Hình sự:

“Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giao dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.”

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Số tiền 30.350.000đ theo Uỷ nhiện chi ngày 04/11/2024 giữa Công an quận K với Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An:
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền: 22.850.000đ.
    • Trả lại cho anh Nguyễn Tiến A 2.500.000đ, anh Đặng Bá T3 2.500.000₫ anh Phạm Anh T4 2.500.000₫.
  • Huỷ bỏ các Lệnh phong toả tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tại các Ngân hàng, cụ thể:
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1030/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP A1.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1031/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP Đ1.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1032/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP B.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1033/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP X.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1034/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP K1.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1035/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP H7.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1036/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP Q.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1037/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP P1.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1038/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP Đ2.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1039/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP S.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1040/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP Q1.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1041/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP V1.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1042/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP N.
    • Lệnh phong toả tài khoản số 1043/LPT-ĐCSHS-KT-MT ngày 30/09/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K tại Ngân hàng TMCP C.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền còn lại tại 39 tài khoản Ngân hàng. Sau đó yêu cầu các Ngân hàng thực hiện việc đóng các tài khoản.

Danh sách các tài khoản tại các ngân hàng cụ thể như sau:

4.1. Ngân hàng TMCP A1:

  • Số tài khoản: 1321011082018, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.
  • Số tài khoản: 1321011607015, chủ tài khoản Nguyễn Tiến A.
  • Số tài khoản 1321011615017, chủ tài khoản Trần Việt H4.
  • Số tài khoản 1321011619096, chủ tài khoản Phạm Anh T4.

4.2 Ngân hàng TMCP Đ1:

  • Số tài khoản 8852073219, chủ tài khoản Đặng Bá T3.
  • Số tài khoản 8822100476, chủ tài khoản Nguyễn Tiến A.
  • Số tài khoản 8892133386, chủ tài khoản Trần Việt H4.
  • Số tài khoản 8852113352, chủ tài khoản Trần Đình H5.
  • Số tài khoản 8862144363, chủ tài khoản Phạm Anh T4.

4.3 Ngân hàng TMCP B:

  • Số tài khoản 8017041354341, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.

4.4 Ngân hàng TMCP X:

  • Số tài khoản 100185038, chủ tài khoản Đặng Bá T3.
  • Số tài khoản 100185633, chủ tài khoản Nguyễn Tiến A.
  • Số tài khoản 100186457, chủ tài khoản Trần Việt H4.
  • Số tài khoản 100186016, chủ tài khoản Trần Đình H5.

4.5 Ngân hàng TMCP K1:

  • Số tài khoản 0000122649, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.
  • Số tài khoản 0348970125, chủ tài khoản Đặng Bá T3.
  • Số tài khoản 0766495082, chủ tài khoản Nguyễn Tiến A.

4.6 Ngân hàng TMCP H7.

  • Số tài khoản 02101012531305, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.

4.7 Ngân hàng TMCP Q.

  • Số tài khoản 100012604879, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.

4.8 Ngân hàng TMCP P1.

  • Số tài khoản 0988492790, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.

4.9 Ngân hàng TMCP Đ2.

  • Số tài khoản 109002436047, chủ tài khoản Đặng Bá T3.
  • Số tài khoản 101002450276, chủ tài khoản Phạm Anh T4.

4.10 Ngân hàng TMCP S.

  • Số tài khoản 0988492790, chủ tài khoản Đỗ Văn H1
  • Số tài khoản 0766495082, chủ tài khoản Nguyễn Tiến A.
  • Số tài khoản 0326355170, chủ tài khoản Trần Việt H4.
  • Số tài khoản 0782166159, chủ tài khoản Trần Đình H5.
  • Số tài khoản 1907200303, chủ tài khoản Phạm Anh T4.

4.11 Ngân hàng TMCP Q1.

  • Số tài khoản 988492790, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.
  • Số tài khoản 326355170, chủ tài khoản Trần Việt H4.
  • Số tài khoản 190703333, chủ tài khoản Phạm Anh T4.

4.12 Ngân hàng TMCP V1.

  • Số tài khoản 000003324477, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.

4.13 Ngân hàng TMCP N.

  • Số tài khoản 9988492790, chủ tài khoản Đỗ Văn H1.
  • Số tài khoản 9348970125, chủ tài khoản Đặng Bá T3.
  • Số tài khoản 9782166159, chủ tài khoản Trần Đình H5.

4.14 Ngân hàng TMCP C.

  • Số tài khoản 109881627742, chủ tài khoản Đặng Bá T3.
  • Số tài khoản 101881646294, chủ tài khoản Nguyễn Tiến A.
  • Số tài khoản 101881673255, chủ tài khoản Trần Việt H4.
  • Số tài khoản 101881656315, chủ tài khoản Trần Đình H5.
  • Số tài khoản 100881682695, chủ tài khoản Phạm Anh T4.

5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Kiến An;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Kiến An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP.Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự CA quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng.
  • - UBND cấp xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng)

  • Số bản án: 143/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger