|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HS-ST Ngày 13 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
-
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Điện
Ông Nguyễn Văn Kháng
-
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai, lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 132/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Lò Văn Đ, sinh năm 2004
Nơi sinh và nơi cứ trú: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Đ1 (đã chết) và bà Lò Thị L ( đã chết); Vợ: Lèo Thị H; Con: Có 02 con lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Đ bị tạm giữ từ ngày 23/6/2024, đến ngày 26/6/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Ngô Tuấn N, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Số E phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Vắng mặt.
Người làm chứng:
Anh Đinh Văn N1, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Bản Đ, xã T, huyện P, tỉnh Sơn La.
Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Ông Nguyễn Văn Cốt N2, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn Đ, sinh năm 1987 ở bản C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, là đối tượng nghiện ma tuý, loại Heroin từ năm 2022 đến nay. Đ hiện thuê trọ tại tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Đ có quen biết với một người tên là S, quê ở huyện S, tỉnh Sơn La dùng số điện thoại 0363.213.xxx; qua trao đổi với nhau Đ biết S có ma túy, loại Heroine. Vào chiều ngày 23/6/2024, S sử dụng số điện thoại 0363.213.xxx gọi điện thoại đến số 0963.502.xxx lắp trong điện thoại SAMSUNG Galaxy A10s, màu đen của Đ, S bảo với Đ là S mới lấy được ít hàng trắng, Đ hiểu ý là ma túy loại Heroine. Do trước đó S vẫn nợ Đại số tiền 300.000 đồng nên Đ bảo S bán cho Đ một ít để trừ nợ số tiền trên. S đồng ý và hẹn Đ lên khu vực Cầu G, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên để lấy ma túy. Đại mượn của ông Ngô Tuấn N, sinh năm 1966 ở phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên chiếc xe mô tô 03 bánh tự chế đi từ khu nhà trọ đến địa điểm đã hẹn với S. Khi đi ngang đường thì Đ thấy S được một nam thanh niên chở bằng xe máy kiểu dáng Honda Wave, màu trắng, không xác định được biển số. Nam thanh niên điều khiển xe đỗ áp sát vào xe của Đ còn S dùng tay trái đưa cho Đ 01 gói nilon màu đen bên trong có ma tuý. Đ cầm ma tuý và cho vào túi áo phía trước bên ngực trái áo Đ đang mặc, còn S cùng người nam thanh niên phóng xe bỏ đi. Sau khi mua được ma tuý, Đ điều khiển xe đi thẳng ra hướng Quốc lộ E, khi đi gần đến Ngõ C thuộc thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì gặp lực lượng Công an huyện V kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm:
-
- T tại túi áo phía trước ngực trái áo ngoài Lò Văn Đ đang mặc: 01 gói nilon màu đen bên trong đựng chất màu trắng, dạng cục và bột; 01 ví giả da màu đen, kích thước 23x10cm, bên trong ví có: ngăn thứ nhất có để số tiền 547.000 đồng, 01 căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn Đ do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/10/2022; tại ngăn thứ hai có 01 gói giấy bạc bên trong đựng chất màu trắng, dạng cục và bột; 01 gói giấy màu vàng bên trong đựng chất màu trắng, dạng cục và bột. Đối với 01 gói nilon màu đen bên trong đựng chất màu trắng, dạng cục và bột; 01 gói giấy bạc bên trong đựng chất màu trắng, dạng cục và bột; 01 gói giấy màu vàng bên trong đựng chất màu trắng, dạng cục và bột được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “M”.
-
- T tại túi quần phía trước bên trái Lò Văn Đ đang mặc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, màu đen, số IMEI1: 863206057400110, số IMEI2: 863206057400102.
-
- T tại túi quần phía trước bên phải Lò Văn Đ đang mặc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đen, số IMEI1: 352125115571266, số IMEI2: 352126115571264.
-
- 01 xe ba bánh tự chế, không xác định được số khung, số máy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn Đ tại tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, kết quả khám xét: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Lò Văn Đ, kết quả dương tính với ma túy, loại Heroine.
Tại bản thông báo kết luận giám định sơ bộ và Bản Kết luận giám định đều số 482/KL-KTHS(MT), ngày 23/6/2024 và ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu “M”, có khối lượng là 0,240g, là ma túy, loại Heroin, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất. H1 lại mẫu vật giám định trong niêm phong ghi số 482/KL-KTHS(MT) của phòng K Công an tỉnh H.
Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn lại mẫu vật gửi giám định số 482/KL-KTHS(MT) của phòng K Công an tỉnh H; 01 ví giả da màu đen, kích thước 23x10cm; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Lò Văn Đ do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/10/2022; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, màu đen, số IMEI1: 863206057400110, số IMEI2: 863206057400102 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đen, số IMEI1: 352125115571266, số IMEI2: 352126115571264, đã qua sử dụng; 01 xe ba bánh tự chế, không xác định được số khung, số máy đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập Kho vật chứng của Công an huyện V chờ xử lý theo quy định.
Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nộp số tiền 547.000 đồng vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Đối với người Đ khai tên là S (không rõ họ, tên đệm, địa chỉ) đã bán ma tuý cho Đ qua số điện thoại 0363.213.xxx, Cơ quan điều tra Công an huyện V đã xác minh thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0363.213.xxx xác định là Phạm Hữu S1, sinh ngày 09/01/1996 ở thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, số CMND: [...]. Xác minh tại Công an xã Đ, xác định: qua rà soát dữ liệu dân cư hiện đang quản lý tại Công an xã thì trên địa bàn xã có công dân Phạm Hữu S1, sinh ngày 09/01/1996 ở thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, số CMND: [...], nay có số căn cước công dân: [...]. Hiện nay, anh S1 không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra Công an huyện V đã tiến hành cho Đ nhận dạng qua ảnh, kết quả nhận dạng Đ xác định: Phạm Hữu S1 không phải người bán ma tuý cho Đ vào ngày 23/6/2024. Cơ quan điều tra Công an huyện V sẽ tiếp tục điều tra làm rõ sẽ giải quyết sau.
Ngày 15/9/2024, Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ về hành vi điều khiển xe gắn máy 03 bánh tự chế quy định tại điểm c, khoản 5, Điều 16 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Đối với ông Ngô Tuấn N cho Đ mượn chiếc xe mô tô 03 bánh tự chế nhưng không biết Đ sử dụng để đi mua ma tuý nên không có căn cứ xử lý. Anh N không có yêu cầu đề nghị gì đối với chiếc xe trên.
Bản cáo trạng số 137/CT-VKS, ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Đại T1 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 23/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 482/KL-KTHS (MT) của Phòng K - Công an tỉnh H và 01 ví giả da màu đen kích thước 23x10cm.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, màu đen số IMEI1: 863206057400110, số IMEI2: 863206057400102 đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/10/2022 mang tên Lò Văn Đ và số tiền 547.000 đồng.
Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đen, số IMEI1: 352125115571266, số IMEI2: 352126115571264, đã qua sử dụng;
01 xe ba bánh tự chế, không xác định được số khung, số máy đã qua sử dụng sẽ tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:
Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên hồi 17 giờ 10 phút ngày 23/6/2024, tại đường N, thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,240 gam ma tuý, loại H2 để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ trên người 0,240g ma túy loại Heroin để sử dụng như nêu ở trên của Lò Văn Đ đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trong tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do không làm chủ bản thân nên đã nghiện ma túy và tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng. Việc sử dụng ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ và phá vỡ các giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Tệ nạn ma tuý là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, nguy cơ lây lan các bệnh nguy hiểm cũng xuất phát từ việc sử dụng trái phép ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
-
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
-
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ………” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy không có công việc, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 482/KL-KTHS (MT) của Phòng K, Công an tỉnh H và 01 ví giả da màu đen kích thước 23x10cm.
Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đen, số IMEI1: 352125115571266, số IMEI2: 352126115571264, đã qua sử dụng của Lò Văn Đ dùng vào việc phạm tội bán phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 xe ba bánh tự chế, không xác định được số khung, số máy đã qua sử dụng là phương tiện Đ đã mượn của ông Ngô Tuấn N, ông N không biết việc Đ sử dụng để đi mua ma túy, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý đối với ông N. Chiếc xe ba bánh tự chế là phương tiện bị Nhà nước cấm lưu hành. Quá trình điều tra ông N tự nguyện không yêu cầu lấy lại chiếc xe và không yêu cầu Đ phải bồi thường nên sẽ tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, màu đen số IMEI1: 863206057400110, số IMEI2: 863206057400102 đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/10/2022 mang tên Lò Văn Đ và số tiền 547.000 đồng.
[5] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 46; Điều 47; Điểm s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Đ 01 ( một) năm 09 ( chín) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 23/6/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 482/KL-KTHS (MT) của Phòng K, Công an tỉnh H và 01 ví giả da màu đen kích thước 23x10cm.
Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A10s, màu đen, số IMEI1: 352125115571266, số IMEI2: 352126115571264, đã qua sử dụng của Lò Văn Đ và 01 xe ba bánh tự chế của ông Ngô Tuấn N, không xác định được số khung, số máy đã qua sử dụng sẽ tịch thu xử lý bán phế liệu, sung vào công quỹ Nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Lò Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y72 5G, màu đen số IMEI1: 863206057400110, số IMEI2: 863206057400102 đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/10/2022 mang tên Lò Văn Đ và số tiền 547.000 đồng ( Năm trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).
( Số tiền hiện gửi tại tài khoản số 3949.0.1051239.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm tại Kho bạc Nhà nước huyện V).
(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)
Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lò Văn Đ2.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Vân Anh |
Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 143/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
