|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HS-ST Ngày 07 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân; Bà Vũ Thị Hòa
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2024/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo.
Họ và tên: Trần Văn T - Sinh ngày 05 tháng 01 năm 1968 tại Lào Cai.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nơi ở trước khi bị bắt: Thôn C, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Kim B bà Nguyễn Thị T1(đều đã chết); Bị cáo có vợ là Phạm Thị C và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 21/6/2024, Trần Văn T đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng nên đã gọi điện thoại cho một người nam giới tên T2Trần Văn Thảo T2“lấy cho anh ít hàng”, người tên T2hỏi lại “lấy bao nhiêu”, Trần Văn T2 lấy 11 gói ma túy Heroine với giá 1.100.000 đồng đồng thời nhờ T2chia số ma túy thành hai phần, hẹn gặp giao dịch mua bán ma túy tại khu vực cổng Đền Q2, phường L, thành phố L khi thống nhất xong Trần Văn T3 mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, biển kiểm soát 24B1- 570.87 đi đến điểm hẹn, khi đến nơi Trần Văn T4 khoảng 15 phút sau thì người nam giới tên T2đến đưa cho Trần Văn T 03 túi nilon, gồm 01 túi nilon màu đen và 02 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa các gói ma túy Heroine, Trần Văn T nhận ma túy rồi lấy 1.100.000 đồng đưa cho người nam giới tên T2Sau khi mua được ma túy Trần Văn T5 khiển xe đi về nhà. Khi Trần Văn T6 trên đường về đến thôn G, xã V, thành phố L bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L làm nhiệm vụ tại khu vực phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, Trần Văn T7 giác giao nộp 03 gói nilon bên trong chứa các gói chất bột khô, màu trắng và nhận chất bột khô màu trắng là ma túy Heroine tàng trữ để sử dụng cho bản thân, ngoài ra còn tạm giữ của Trần Văn T8 điện thoại nhãn hiệu VIVO đã qua sử dụng, 01 xe mô tô Honda Wave RS, biển kiểm soát 24B1- 570.87, 01 ví giả da màu nâu, 01 căn cước công dân mang tên Trần Văn T9 Ngân hàng N550.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định số: 258/GĐMT ngày 26/6/2024 của Phòng KCông an tỉnh Lđã kết luận: 1,005 (một phẩy không trăm linh năm) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Trần Văn T10 21/6/2024 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đến giám định là loại chất ma túy Heroine
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số: 129/CT-VKS ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội khoảng 11 giờ ngày 21/6/2024 bị cáo Trần Văn T đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng nên đã gọi điện thoại cho một người nam giới tên T2 trao đổi việc mua ma túy và hẹn gặp giao dịch mua bán ma túy tại khu vực cổng Đền Q2, phường L, thành phố L khi thống nhất xong Trần Văn T5 khiển xe mô tô đi đến điểm hẹn, đợi khoảng 15 phút thì người nam giới tên T2đến đưa cho Trần Văn T 03 túi nilon, gồm 01 túi nilon màu đen và 02 túi nilon màu trắng bên trong đều chứa các gói ma túy Heroine, Trần Văn T11 ma túy rồi trả người nam giới tên T12 số tiền 1.100.000 đồng rồi điều khiển xe đi về đến thôn G, xã V, thành phố L bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L hiện bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để sử dụng là 1,005 gam chất ma túy Heroine. Như vậy, với hành vi và số lượng ma túy như trên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương vì vậy cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình anh trai là ông Trần Quốc V nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là lao động tự do, nghiện ma tuý, không có tài sản, thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 1,005gam ma tuý heroine sau khi trích mẫu giám định số ma túy còn lại cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO thu giữ của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; Số tiền 550.000 đồng thu giữ của Trần Văn T không liên quan đến việc phạm tội, cần tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án, trả lại cho bị cáo 350.000 đồng; 01 ví giả da thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo đề nghị tiêu hủy; Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân; Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA Wave RS, biển kiểm soát 24 B1 - 570.87 là của anh Trần Hồng Q quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Trần Hồng Q1 đúng quy định.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu hủy: 0,532 gam ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng KCông an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Trần Văn T ngày 21/6/2024 tại thôn G, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai ” và 01 ví giả da màu nâu;
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của Trần Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu VIVO số IMEI1: 867966048390110 gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng
- - Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Văn T
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Trần Văn T số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Trần Văn T hiện đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.9049863 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai.
- Về án phí: Căn cứ điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 143/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Trường phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
