Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 143/2024/HS-ST

Ngày 31-10-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài .

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Duyên.

Ông Nguyễn Văn Thiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Ninh Ngọc D, sinh ngày 21 tháng 01 năm 1977 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ninh Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị Kim Y và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 12/7/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Đào Trung K, sinh ngày 08 tháng 7 năm 1987 tại Hưng Yên. Nơi cư trú: Số H đường K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Duy T2 và bà Phạm Thị T3; có vợ là Trương Thị Ngọc M và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 12/7/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Phạm Văn T4, sinh ngày 31 tháng 7 năm 1993 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C (đã chết) và bà Phạm Thị O; có vợ là Nguyễn Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 12/7/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Phạm Trọng L1, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Số B Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số B tầng B, chung cư H, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trọng L2 và bà Nguyễn Thị L3; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 12/7/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. Phạm Công T5, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao đông tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công T6 (đã chết) và bà Vũ Thị Xuân Đ; có vợ là Phạm Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 09/7/2024 đến ngày 12/7/2024 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 17 giờ ngày 08/7/2024, trong lúc ngồi chơi uống nước tại phòng sửa chữa khuôn của Công ty TNHH Y1 thuộc KCN DEEP C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Ninh Ngọc D, Phạm Văn T4, Đào Trung K, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 cùng rủ nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền. Những người chơi thống nhất cách thức chơi như sau:

Giai đoạn 1 là quá trình đặt tiền cược trước khi chia bài, mỗi người chơi bỏ ra số tiền 10.000 đồng để đặt cược (gọi là tiền vào “gà”). Người cầm cái kiểm tra số tiền cược và để vào vị trí giữa chiếu bạc.

Giai đoạn 2 là quá trình chia bài và kiểm tra kết quả. Người cầm cái sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá chia theo vòng cho mỗi người 03 lá bài. Số bài còn lại thì để ra giữa chiếu bạc. Theo quy ước cách tính điểm từ bộ 03 lá bài của mỗi người chơi như sau: số điểm được cộng tương ứng với lá bài từ 2 đến 9, lá bài Át được tính là 01 điểm, lá bài 10, J, Q, K được tính là 0 điểm. “Sáp” là 03 lá bài giống nhau, “sáp Át” là lớn nhất và giảm dần theo thứ tự từ lá bài Át đến 2. “Liêng” là 03 lá bài bất kỳ liền nhau, “liêng Q, K, Át” là lớn nhất và giảm dần theo thứ tự rô, cơ, tép, bích. “Đĩ” là 03 lá bài của người chơi gồm các lá J, Q, K không liền nhau. Cách so sánh điểm theo thứ tự giảm dần từ: “sáp”, “liêng”, “đĩ”, điểm số.

Giai đoạn 3 là giai đoạn đặt cược tiếp theo và so bài. Mỗi người đặt cược theo mức thấp nhất là 10.000 đồng và cao nhất là 100.000 đồng trong 01 ván bạc. Người cầm cái là người đặt cược đầu tiên rồi đến những người sau theo chiều kim đồng hồ. Sau khi đặt cược xong thì tiến hành so bài theo thứ tự đặt cược. Mỗi người chơi cũng có quyền bỏ bài, không đặt cược và được tính là người thua. Người có số điểm cao nhất là người thắng. Người thắng được toàn bộ số tiền của những người chơi khác đã đặt cược và là người cầm cái, tiếp tục chia bài để chơi ván bạc mới.

Sau khi thống nhất cách thức đánh bạc, Ninh Ngọc D đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá ở một quán nước trên vỉa hè đường Đ, Đ, H, Hải Phòng (D không nhớ địa chỉ) để cả nhóm sử dụng đánh bạc. Khi bắt đầu chơi, Đào Trung K là người cầm cái và chia bài đầu tiên.

Cả nhóm chơi đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Đồn Công an Khu công nghiệp Đ1, quận H, Hải Phòng bắt quả tang, thu giữ tại chỗ các đối tượng đang ngồi đánh bạc 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài và số tiền 5.300.000 đồng, trong đó thu của Ninh N1 Dân số tiền 810.000 đồng; của Đào Trung K số tiền 1.110.000 đồng; của Phạm Văn T4 số tiền 230.000 đồng; của Phạm Trọng L1 số tiền 1.920.000 đồng; của Phạm Công T5 số tiền 1.230.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai nhận khi tham gia chơi: Ninh Ngọc D có 700.000 đồng để đánh bạc, thắng 110.000 đồng. Đào Trung K có 1.800.000 đồng để đánh bạc, thua 690.000 đồng. Phạm Văn T4 có 1.200.000 đồng để đánh bạc, thua 970.000 đồng. Phạm Trọng L1 có 800.000 đồng để đánh bạc, thắng 1.120.000 đồng. Phạm Công T5 có 800.000 đồng để đánh bạc, thắng 430.000 đồng.

Về vật chứng: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài và số tiền 5.300.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An quản lý theo quy định.

Tại Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 26/9/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, áp dụng các bị cáo được phạt tiền là hình phạt chính.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên truy tố đối với bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự xử: Phạt tiền bị cáo Ninh Ngọc D từ 24.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự xử:
    • + Phạt tiền bị cáo Đào Trung K từ 23.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
    • + Phạt tiền bị cáo Phạm Văn T4 từ 22.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
    • + Phạt tiền Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 mỗi bị cáo từ 21.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.300.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài.
  • - Về án phí: Các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

  1. [1] Điều tra viên Công an quận H, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về việc xác định tội danh, điều luật áp dụng:

  1. [3] Từ khoảng 17 giờ đến 18 giờ 30 phút ngày 08/7/2024, tại phòng sửa chữa khuôn của Công ty TNHH Y1 thuộc KCN DEEP C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 5.300.000 đồng.
  2. [4] Lời khai nhận của các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.
  3. [5] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  1. [6] Các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  2. [7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Ninh Ngọc D có thời gian tham gia quân đội (từ tháng 3/1997 đến tháng 02/1999) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về vai trò và hình phạt:

  1. [8] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo bột phát nảy sinh ý định chơi cờ bạc, tiếp nhận ý chí của nhau và cùng thực hiện hành vi đánh bạc. Các bị cáo đều tham gia với vai trò là người thực hành. Bị cáo Ninh Ngọc D là người trực tiếp mua bộ bài tú lơ khơ để các bị cáo thực hiện việc đánh bạc.
  2. [9] Bị cáo Ninh Ngọc D đánh bạc với số tiền 700.000 đồng, bị cáo Đào Trung K đánh bạc với số tiền 1.800.000 đồng, bị cáo Phạm Văn T4 đánh bạc với số tiền 1.200.000 đồng, bị cáo Phạm Trọng L1 và bị cáo Phạm Công T5 đánh bạc với số tiền bằng nhau 800.000 đồng.
  3. [10] Từ những phân tích nêu trên, xét nhân thân và hành vi phạm tội khi lượng hình cần xử phạt bị cáo Ninh Ngọc D mức hình phạt cao nhất trong vụ án, bị cáo Đào Trung K mức hình phạt thấp hơn bị cáo Ninh Ngọc D và cao hơn bị cáo Phạm Văn T4. Bị cáo Phạm Trọng L1 và bị cáo Phạm Công T5 hình phạt bằng nhau và mức hình phạt thấp nhất trong vụ án.
  4. [11] Tại phiên tòa, các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 yêu cầu được áp dụng phạt tiền là hình phạt chính. Xét tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng, các bị cáo có điều kiện, khả năng thực hiện hình phạt tiền nên cần áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự, phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo D, T4, K, L1, T5 cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

- Về hình phạt bổ sung:

  1. [12] Các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  1. [13] Đối với số tiền 5.300.000 đồng cơ quan công an thu giữ của các bị cáo. Xét đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  2. [14] Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài. Xét đây là dụng cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.
  3. [15] Đối với anh Đỗ Văn H (sinh 1986, trú tại: Thôn D, xã C, huyện V, Hải Phòng) là người quản lý khu vực sửa chữa khuôn, trong đó có phòng sửa chữa khuôn của Công ty TNHH Y1 thuộc KCN DEEP C, phường Đ, H, Hải Phòng không biết việc Ninh Ngọc D, Phạm Văn T4, Đào Trung K, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 đánh bạc nên không có căn cứ xử lý, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

  1. [16] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Ninh Ngọc D, Đào Trung K, Phạm Văn T4, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự xử:

Phạt tiền Ninh Ngọc D số tiền 24.000.000 (hai mươi tư triệu) đồng về tội Đánh bạc.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Hình sự xử:

  • + Phạt tiền bị cáo Đào Trung K số tiền 23.000.000 (hai mươi ba triệu) đồng về tội Đánh bạc.
  • + Phạt tiền bị cáo Phạm Văn T4 số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng về tội Đánh bạc.
  • + Phạt tiền bị cáo Phạm Trọng L1 số tiền 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng về tội Đánh bạc.
  • + Phạt tiền bị cáo Phạm Công T5 số tiền 21.000.000 (hai mươi mốt triệu) đồng về tội Đánh bạc.

- Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Ninh Ngọc D, Phạm Văn T4, Đào Trung K, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền đánh bạc là 5.300.000 (năm triệu ba trăm nghìn) đồng (theo Biên lai thu tiền số 0004826 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/9/2024 giữa Công an quận H, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc: Các bị cáo Ninh Ngọc D, Phạm Văn T4, Đào Trung K, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Ninh Ngọc D, Phạm Văn T4, Đào Trung K, Phạm Trọng L1, Phạm Công T5 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Nguyễn Thị Hoài

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - Công an quận Hải An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự Công an quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 143/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger