Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 143/2024/HSST

Ngày 30-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng - Giáo viên nghỉ hưu; ông Nguyễn Văn Hoằng - Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXX-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Lý Việt A, sinh ngày 17/02/2010; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Quang H và bà Nguyễn Thị Hồng H1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 23/8/2024 được áp dụng biện pháp giao cho người đại diện giám sát (có mặt).
  2. Trần Đình T, sinh ngày 14/01/2008; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Vũ Thị N1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 23/8/2024 được áp dụng biện pháp giao cho người đại diện giám sát (có mặt).

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lý Việt A: Anh Lý Quang H, sinh năm 1982 và chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; đều có mặt.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đình T: Anh Trần Văn N, sinh năm 1981 và chị Vũ Thị N1, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; đều có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Phạm Thị N2- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; có mặt.

- Bị hại: Chị Lường Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Vũ Thị N1, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội; có mặt.
  • + Bà Kiều Thị H2, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt

- Người làm chứng: Anh Vũ Anh T1, sinh năm 1987 và chị Lê Thị Ninh T2, sinh năm 1996; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 ngày 14/8/2024, Trần Đình T rủ Lý Việt A tìm đánh một người có mâu thuẫn với T trước đó trong khu công nghiệp Đ II thì Việt A đồng ý. T mang theo 01 con dao, loại dao chặt, lưỡi bằng kim loại, chuôi ốp gỗ màu vàng, chiều dài 45 cm, bản rộng nhất 6cm và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 29Y7-154.65 chở Việt A đi từ nhà ở thôn T, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội đến cổng Công ty H4 – Khu công nghiệp Đ, thuộc phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam. T và Việt A đứng chờ ở cổng Công ty H4 đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày nhưng không thấy người đã mâu thuẫn với mình nên T điều khiển xe chở Việt A đi theo đường QL38 hướng Đ - H để về nhà.

Khi đi đến đoạn gần cầu P thuộc tổ dân phố C, phường Y, V nhìn thấy ở phía trước cùng chiều, cách xe mô tô T đang điều khiển khoảng 20m, có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS 90B3-642.49 do chị Lê Thị Ninh T2, sinh năm 1996, cư trú tại tổ dân phố C, phường Y, thị xã D điều khiển chở chị Lường Thị D (là chị dâu của chị T2) ngồi phía sau và bế con của chị T2 đi khám bệnh ở Đ về. Lúc này, chị D để chiếc điện thoại Iphone Xs Max ở túi quần phía sau bên trái đang mặc, một nửa chiếc điện thoại hở ra ngoài. Thấy chiếc điện thoại của chị D để sơ hở, có thể dễ dàng lấy được nên Việt A nảy sinh ý định giật chiếc điện thoại trên của chị D. Việt A chỉ về hướng chiếc điện thoại của chị D và nói với T “Điện thoại trước mặt kìa, anh tổ được không, phi lên để em giật, bán được hai anh em chia đôi, không bán được thì để em dùng”. Hiểu ý Việt A muốn mình điều khiển xe mô tô lên áp sát xe mô tô của chị T2 để Việt A ngồi sau giật chiếc điện thoại của chị D nên T đồng ý và nói “Ừ”. Ngay sau đó, T điều khiển tăng tốc độ xe mô tô đi lên song song, áp sát phía bên trái xe mô tô 90B3-642.49 do chị T2 điều khiển thì Việt A dùng tay phải giật được chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max ra khỏi túi quần của chị D và nói với T “Chạy đi”. Thấy vậy, T điều khiển tăng ga xe mô tô, phóng nhanh bỏ chạy về phía Hoà Mạc. Lúc này, chị T2 và chị D cũng về đến khu vực trước cửa nhà mình, thấy anh Vũ Anh T1, sinh năm 1987 là chồng chị D đang đứng ở phía trước cửa nên khi bị giật điện thoại, chị D hô “Cướp, anh ơi nó cướp điện thoại của em mất rồi” thì anh T1 đã lấy xe mô tô BKS 90B3-642.49 đuổi theo xe của T và Việt A đang bỏ chạy, đồng thời hô “Cướp”. Khi phát hiện anh T1 đuổi theo, Việt A hoảng sợ nên đã vứt chiếc điện thoại Iphone Xs Max vừa cướp giật được của chị D xuống lề bên phải đường QL38 theo chiều đi của mình, rồi cả hai tiếp tục bỏ chạy. Khi chạy đến tổ dân phố Q, phường H, thị xã D thì T và Việt A bị anh T1 cùng tổ công tác của Công an thị xã D đang tuần tra, kiểm soát trên địa bàn tổ dân phố Q phát hiện, bắt giữ, thu giữ các vật chứng liên quan và đưa về trụ sở Công an phường H để lập biên bản theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu của chị Lường Thị D: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, IMEI1: 353103104779777, IMEI2: 353103104791681, có ốp lưng bằng nhựa dẻo viền màu xanh. Thu của Trần Đình T: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha kiểu xe Sirius, màu sơn: Đỏ - Đen, số máy: 5C6K-025986, số khung: 6K0DY025987,trong cốp xe có 01 chiếc biển số 29Y7-154.65; 01 con dao loại dao chặt, lưỡi bằng kim loại, chuôi ốp gỗ màu vàng, chiều dài 45 cm, bản rộng nhất 6cm. Quá trình điều tra xác định 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, IMEI1: 353103104779777, IMEI2: 353103104791681, 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo viền màu xanh là tài sản hợp pháp của chị Lường Thị D nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị D

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐ ngày 20/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, IMEI1: 353103104779777, IMEI2: 353103104791681 trị giá 6.500.000 đồng, 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo viền màu xanh, trị giá 10.000 đồng. Tổng cộng là 6.510.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Khi bị truy đuổi, Lý Việt A đã vứt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, IMEI1: 353103104779777, IMEI2: 353103104791681, có ốp lưng bằng nhựa dẻo viền màu xanh xuống lề đường thì bà Kiều Thị H2, sinh năm 1956, ở tổ dân phố T, phường C, thị xã D nhặt được, trả lại cho chị D. Nay chị D đã được nhận lại điện thoại của mình và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì.

Cáo trạng số 137/CT-VKS-DT ngày 09/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố các bị cáo Lý Việt A, Trần Đình T về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 91; 101; 17; 58; 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo xử phạt Lý Việt A từ 24 đến 30 tháng tù, xử phạt Trần Đình T từ 30 đến 36 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; về trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết; về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 con dao dài 45cm, bản rộng 6cm; trả lại cho bà Vũ Thị N1: 01 xe mô tô 29Y7-154.65 và tuyên án phí đối với các bị cáo.

Người bào chữa xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; người đại diện và các bị cáo đồng ý với lời bào chữa, xin giảm nhẹ hình phạt; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, không có yêu cầu gì; người liên quan không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử(HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh, tính chất mức độ tội phạm: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 ngày 14/8/2024, tại đoạn đường QL38 thuộc tổ dân phố C, phường Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Trần Đình T điều khiển xe mô tô BKS 29Y7-154.65 chở Lý Việt A ngồi phía sau để Việt A dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động Iphone Xs Max trị giá 6.510.000 đồng để ở túi quần phía sau bên trái của chị Lường Thị D đang ngồi phía sau xe máy do chị Lê Thị Ninh T2 điều khiển rồi T tăng ga xe, phóng nhanh bỏ chạy đến tổ dân phố Q, phường H, thị xã D thì bị truy đuổi, bắt giữ.

Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tài sản, đe doạ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo hộ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của các bị cáo điều khiển xe mô tô áp sát xe của bị hại để giật điện thoại đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng.

[3] Xét vai trò: Lý Việt A là người khởi xướng, trực tiếp giật điện thoại của chị D nên giữ vai trò thứ nhất, Trần Đình T giữ vai trò đồng phạm.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm phạm tội Lý Việt A 14 tuổi 05 tháng 28 ngày; Trần Đình T 16 tuổi 07 tháng nên các bị cáo còn được áp dụng quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

[5] Về hình phạt: Từ nhận định trên nhận thấy hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự vì thế cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Các bị cáo chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 xe mô tô Sirius biển số 29Y7-154.65 là tài sản của bà Vũ Thị N1, bà N1 không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho bà Vũ Thị N1. Đối với 01 con dao lưỡi bằng kim loại, chuôi ốp gỗ dài 45cm, bản rộng nhất 6cm bị cáo T mang theo mục đích để đánh nhau với người khác vì thế cần tịch thu cho tiêu huỷ.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đương sự thực hiện theo quy định.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự. Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 91; 101; 17; 58; 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Tuyên bố các bị cáo Lý Việt A, Trần Đình T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt:

  • + Lý Việt A 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 23/8/2024. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
  • + Trần Đình T 33 (Ba mươi ba) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 23/8/2024. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy: 01 con dao loại dao chặt, lưỡi bằng kim loại, chuôi ốp gỗ màu vàng, chiều dài 45cm, bản rộng nhất 6cm.

Trả lại cho bà Vũ Thị N1: 01 xe mô tô Sirius biển số 29Y7-154.65, số máy: 5C6K-025986, số khung: 6K0DY025987.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội các bị cáo Lý Việt A, Trần Đình T mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Các bị cáo, đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an T;
  • - VKSND thị xã Duy Tiên;
  • - Chi cục THADS thị xã D;
  • - Cơ quan THAHS Công an T;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Bị cáo; đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HSST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 143/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Việt Anh, Trần Đình Trung phạm tội" Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger