TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 143/2024/DS-ST Ngày 30/9/2024 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giang Thành
Bà Lê Thị Vân Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 146/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K
- Bị đơn: Ông Lưu Hoàng V1, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở: Số D- D- D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Trung V - Phó Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Hà Hoàn H. Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. (Ông H có mặt)
Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung khởi kiện và tại phiên toà sơ thẩm, ông Hà Hoàn H – người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng TMCP K trình bày như sau:
Năm 2021 vợ chồng ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N có ký với Ngân hàng TMCP K – PGD Hòn Đất Hợp đồng tín dụng từng lần số 1975/21/HĐTD/1012- 6156 ngày 20/12/2021 cụ thể: vay 290,000,000 đồng; Mục đích vay để thuê đất, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ máy cày; Thời hạn vay 12 tháng; Ngày giải ngân 20/12/2021; Lãi suất vay 11.1%/năm.
Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1975/21/HĐTC-BĐS/1012-6156 ngày 20/12/2021 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N. Tài sản thế chấp bảo đảm nợ là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB597089; số vào sổ H01231/4448/QĐ-UB; do UBND huyện H cấp ngày 31/7/2006; số thửa: 73; tờ bản đồ số: 5; diện tích 12,927 m², mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa; địa chỉ thửa đất: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh K đứng tên ông Lưu Hoàng V1.
Trong quá trình vay vốn, ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N không có thiện chí hợp tác thanh toán nợ cho Ngân hàng và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Tạm tính đến ngày 30/9/2024, ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là: 385.482.858 đồng (trong đó: gốc 290.000.000 đồng, lãi quá hạn 95.482.858 đồng).
Nay Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang giải quyết các nội dung sau:
- Buộc ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N trả cho Ngân hàng K tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 385.482.858 đồng và tiền lãi phát sinh từ sau ngày 30/9/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.
- Trường hợp ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng K có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1975/21/HĐTC-BĐS/1012-6156 ngày 20/12/2021 để thu hồi nợ.
* Bị đơn ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N:
Ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án và yêu cầu ông bà có mặt tại Toà để tham gia các phiên hoà giải với Ngân hàng K nhưng ông bà cố tình trốn tránh nên không có lời khai của ông V1, bà N tại Toà án. Các văn bản tố tụng của Toà đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
* Tại phiên tòa: Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đây là vụ án dân sự tranh chấp giữa cá nhân với tổ chức có đăng ký kinh doanh, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn hiện có địa chỉ và cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất thụ lý và giải quyết là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N vắng mặt lần thứ hai. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên toà giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung vụ án:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Vào ngày 20/12/2021 vợ chồng ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K, Phòng giao dịch huyện H để vay số tiền 290.000.000 đồng; mục đích để thuê đất, sản xuất nông nghiệp, dịch vụ máy cày; thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 11,1%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Khi vay ông V1, bà N có thế chấp quyền sử dụng đất diện tích đất 12,927 m² trồng lúa tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận QSD đất số AB597089 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 31/7/2006 đứng tên ông Lưu Hoàng V1. Trong quá trình vay vốn ông bà có đóng lãi được một phần.
Tạm tính đến ngày 30/9/2024 ông V1, bà N còn nợ Ngân hàng K tổng số tiền gốc và lãi là 385.482.858 đồng (trong đó: gốc 290.000.000 đồng, lãi quá hạn 95.482.858 đồng).
Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, nguyên đơn đã cung cấp toàn bộ hồ sơ cấp tín dụng có chữ ký của ông V1, bà N nên đây được xem là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông Lưu Hoàng V1, bà Nguyễn Thị Thanh N không có mặt theo thông báo của Toà án, như vậy ông bà đã từ chối quyền và nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định ông V1, bà N có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K, PGD Hòn Đất để vay số tiền 290.000.000 đồng và tính đến ngày 30/9/2024 ông V1, bà N còn nợ Ngân hàng K tổng số tiền gốc và lãi là 385.482.858 đồng (trong đó: gốc 290.000.000 đồng, lãi quá hạn 95.482.858 đồng). Do ông V1, bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng nên HĐXX cần buộc ông V1, bà N phải có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc và lãi nêu trên cho Ngân hàng K là phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra ông bà còn phải chịu tất cả các khoản lãi phát sinh tiếp theo sau ngày 30/9/2024 đến khi thanh toán dứt điểm nợ cho Ngân hàng.
Xét hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm: Để đảm bảo cho khoản vay, ông V1, bà N có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1975/21/HĐTC-BĐS/1012-6156 ngày 20/12/2021; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB597089; số vào sổ H01231/4448/QĐ-UB; do UBND huyện H cấp ngày 31/7/2006; số thửa: 73; tờ bản đồ số: 5; diện tích 12,927 m², mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa; địa chỉ thửa đất: ấp H, xã M, huyện H, tỉnh K đứng tên ông Lưu Hoàng V1. Hợp đồng thế chấp giữa các bên được công chứng và được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất đúng quy định của pháp luật đất đai nên có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên. Do đó, trong trường hợp ông V1, bà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên cho Ngân hàng K thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khi ông V1, bà N thanh toán hết gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận QSD đất cho ông V1, bà N.
Từ những cơ sở trên, sau khi thảo luận nghị án, HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông V1, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 19.274.000 đồng.
- Ngân hàng TMCP K được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Áp dụng khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010.
- - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
- - Nợ gốc: 290.000.000 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 95.482.858 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 19.274.000 đồng (Mười chín triệu, hai trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).
- - Ngân hàng TMCP K được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 8.730.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000942 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Buộc ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 385.482.858 đồng. Trong đó;
Kể từ sau ngày 30/9/2024, ông Lưu Hoàng V1 và bà Nguyễn Thị Thanh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP K thì lãi suất mà ông V1, bà N phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng K theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Trường hợp ông V1, bà N không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng K được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 12.927m² đất trồng lúa tại thửa số 73, tờ bản đồ số 04. Đất toạ lạc tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 597089 ngày 31/7/2006 đứng tên ông Lưu Hoàng V1 để thu hồi nợ.
Sau khi ông V1, bà N hoàn tất nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP K có trách nhiệm trả lại bản chính giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho ông V1.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 143/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 143/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
