TAND.TP NHATRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
Án số: 143/2024/DSST Ngày: 27/9/2024 V/v: “T/c hợp đồng tín dụng” |
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Lê Thị Hồng Minh
- - Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Bạn
- Ông Đặng Trần Khoa
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy - Cán bộ Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên toà xét xử công khai vụ án thụ lý số 168/2023/TLST – DS ngày 08/5/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QÐST - DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 164/2024/QÐST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
- Trụ sở: Số G phố T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Quang H – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tĩnh K - Chuyên viên bán nợ và TSBĐ nợ cấp 1.
- Địa chỉ: A - A T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
- * Bị đơn: 1/ Bà Nguyễn Thị Út H1 – sinh năm 1985
- 2/ Ông Nguyễn Văn H2 – sinh năm 1980
- Địa chỉ: NV I - B, khu đô thị M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai, lời trình bày trong quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Tĩnh K trình bày:
Ngân hàng TMCP S đã cho ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Út H1 vay theo các Hợp đồng tín dụng như sau:
- Tại Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 23/01/2018, Ngân hàng TMCP S đã cho bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 vay số tiền 2.350.000.000 đồng (bằng chữ: Hai tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng) để bù đắp tiền mua lô đất số NV09-21 KĐTM P, P.P, TP Khánh Hòa. Thời hạn vay: 240 tháng. Gốc và lãi trả hàng tháng vào ngày 25. Khế ước nhận nợ còn hiệu lực: Khế ước nhận nợ số 01-48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 24/01/2018: + Số tiền nhận nợ: 2.350.000.000 đồng (bằng chữ: Hai tỷ ba trăm năm mươi triệu đồng); + Ngày đến hạn: 24/01/2038; + Kỳ hạn trả nợ gốc, lãi: hàng tháng vào ngày 25 ; + Lãi suất cho vay: 9,1%/năm cố định trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân và được điều chỉnh 03 tháng/lần, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh đầu tiên và các kỳ tiếp theo bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 13 tháng trả lãi sau cao nhất của Ngân hàng TMCP S tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ cho vay là 3,8%/năm; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
1.2 Tại Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 24/4/2019, Ngân hàng TMCP S đã cho bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 vay số tiền 1.600.000.000 đồng (bằng chữ: Một tỷ sáu trăm triệu đồng) để bù đắp và thanh toán chi phí xây dựng nhà ở tại địa chỉ lô đất số NV09-21 KĐTM P, P.P, TP ., Khánh Hòa. Thời hạn vay: 120 tháng. Gốc và lãi trả hàng tháng vào ngày 25. Khế ước nhận nợ còn hiệu lực:
- Khế ước nhận nợ số 01-175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 25/4/2019: + Số tiền nhận nợ: 1.600.000.000 đồng (bằng chữ: Một tỷ sáu trăm triệu đồng); + Ngày đến hạn: 25/4/2029; + Kỳ hạn trả nợ gốc, lãi: hàng tháng vào ngày 25; + Lãi suất cho vay: 10,5%/năm cố định trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân và được điều chỉnh 03 tháng/lần, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh đầu tiên và các kỳ tiếp theo bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 13 tháng trả lãi sau cao nhất của Ngân hàng TMCP S tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ cho vay là 3,8%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
2. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên:
Toàn bộ các quyền tài sản, tài sản và lợi ích khác thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phát sinh từ Hợp đồng chuyển nhượng đất ở gắn với hạ tầng kỹ thuật số NV09-21/HĐMBNƠ-HUDNT ngày 31/12/2014 ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với Công ty CP P thuộc dự án Khu đô thị M; Phụ lục Hợp đồng số 01PL/ NV09-21/HĐMBNƠ-HUDNT ngày 17/01/2018 về việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất ở số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị Út H1 và Công ty CP P và các văn bản/Phụ lục sửa đổi bổ sung của Hợp đồng này.
Tài sản bảo đảm này được thế chấp vay vốn tại Ngân hàng S theo “Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng kỹ thuật” số 26/2018/HĐTC-CN/SHB.120300 ngày 23/01/2018; được công chứng tại Văn phòng C theo số công chứng 1394, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Đà Nẵng; và Phụ lục hợp đồng thế chấp số PL01-26/2018/HĐTC-CN/SHB.120300 ngày 24/4/2019 kèm theo.
Trong quá trình vay vốn, bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ được quy định trên Hợp đồng tín dụng về trả nợ vay, cụ thể: ông H2 và bà H1 chỉ thanh toán được 1 phần nợ gốc và lãi với tổng số tiền 1.839.372.174 đồng (trong đó nợ gốc: 576.200.000 đồng, nợ lãi và phạt: 1.263.172.174 đồng) và phát sinh nợ quá hạn từ tháng 7/2021 cho đến nay.
Ngân hàng TMCP S đã nhiều lần nhắc nhở và làm việc với ông H2, bà H1 để thanh toán các khoản nợ quá hạn nhưng cho đến nay vẫn không nhận được sự hợp tác từ phí khách hàng. Vì vậy Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phải trả ngay toàn bộ số nợ hiện tại là:
- Số tiền bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phải trả tạm tính đến ngày 27/9/2024 là:
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 2.098.955.813 đồng (trong đó nợ gốc: 1.600.400.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 474.271.102 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.284.711 đồng);
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 1.549.632.035 đồng (trong đó nợ gốc: 1.179.200.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 327.735.965 đồng, nợ lãi quá hạn: 42.696.070 đồng).
Tổng số tiền phải trả: 3.648.587.848 đồng. Ngoài ra bà H1 và ông H2 còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo hai Hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Nếu bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 không trả được nợ theo yêu cầu của Ngân hàng, thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, là: Toàn bộ các quyền tài sản, tài sản và lợi ích khác thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phát sinh từ Hợp đồng chuyển nhượng đất ở gắn với hạ tầng kỹ thuật số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ngày 31/12/2014 ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với Công ty CP P thuộc dự án Khu đô thị M; Phụ lục hợp đồng số 01PL/ NV09-21/HĐMBNƠ-HUDNT ngày 17/01/2018 về việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất ở số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị Út H1 và Công ty CP P và các văn bản/Phụ lục sửa đổi bổ sung của Hợp đồng này.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn chịu chi phí này.
Về án phí: Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm.
* Bị đơn trình bày:
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 trình bày: Bà thừa nhận bà và chồng bà có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S đúng như nội dung Ngân hàng đã trình bày. Tuy nhiên bà trình bày là cần có thời gian để xem lại số liệu với bên Ngân hàng hẹn đến 14/6/2024 sẽ tiến hành hòa giải và đối chiếu.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của đại diện phía Ngân hàng về việc ông và vợ ông là bà Nguyễn Thị Út H1 vay vốn tại Ngân hàng S1 và tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông bà đúng với Ngân hàng trình bày. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ông đồng ý.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo luật định nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án lập biên bản để có cơ sở giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, ông H2 và bà H1 không có mặt, Tòa án đã tiến hành thủ tục tố tụng tống đạt, niêm yết đối với bị đơn theo quy định để ông H2, bà H1 thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng ông H2, bà H1 vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt đối với bị đơn.Tại văn bản phát biểu ý kiến, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 116, điều 463, Điều 466; Điều 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự; Điều 147; Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí. Tuyên xử:
1/ Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Út H1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S2 – Hà Nội toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính đến ngày 27/9/2024 là:
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 2.098.955.813 đồng (trong đó nợ gốc: 1.600.400.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 474.271.102 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.284.711 đồng);
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 1.549.632.035 đồng (trong đó nợ gốc: 1.179.200.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 327.735.965 đồng, nợ lãi quá hạn: 42.696.070 đồng).
Tổng số tiền phải trả: 3.648.587.848 đồng. Ngoài ra bà H1 và ông H2 còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo hai Hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
+ Nếu bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 không trả được nợ theo yêu cầu của Ngân hàng, thì Ngân hàng TMCP S có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, là: Toàn bộ các quyền tài sản, tài sản và lợi ích khác thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phát sinh từ Hợp đồng chuyển nhượng đất ở gắn với hạ tầng kỹ thuật số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ngày 31/12/2014 ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với Công ty CP P thuộc dự án Khu đô thị M; Phụ lục hợp đồng số 01PL/
NV09-21/HĐMBNƠ-HUDNT ngày 17/01/2018 về việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất ở số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị Út H1 và Công ty CP P và các văn bản/Phụ lục sửa đổi bổ sung của Hợp đồng này.
2/ Án phí: Bị đơn phải chịu án phí DSST. H3 lại án phí cho nguyên đơn theo quy định.
3/ Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2, bị đơn có địa chỉ cư trú và tài sản tranh chấp tọa lạc tại tại NV I - B, khu đô thị M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Tĩnh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính bộ số nợ gốc và lãi vay tạm tính đến ngày 27/9/2024 là:
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 2.098.955.813 đồng (trong đó nợ gốc: 1.600.400.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 474.271.102 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.284.711 đồng);
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 1.549.632.035 đồng (trong đó nợ gốc: 1.179.200.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 327.735.965 đồng, nợ lãi quá hạn: 42.696.070 đồng).
Tổng số tiền phải trả: 3.648.587.848 đồng. Ngoài ra bà H1 và ông H2 còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo hai Hợp đồng tín dụng nói trên cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
[2.1] Về yều cầu trả nợ gốc:
Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 đã vi phạm thỏa thuận về điều khoản nghĩa vụ trả nợ, thanh toán tại các Hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 23/01/2018; Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 24/4/2019 và Các khế ước nhận nợ số 01-48/2019/HĐTDTDH –CN/SHB.120300 ngày 25/4/2019; Khế ước nhận nợ số 01-175/2018/HĐTDTDH –CN/SHB.120300 ngày 24/01/2018 kể từ tháng 7/2021 cho đến nay. Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc chưa thanh toán là: Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 1.600.400.000 đồng (Một tỷ sáu trăm triệu bốn trăm nghìn đồng) và Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 1.179.200.000 đồng (Một tỷ một trăm bảy mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng).
[2.2] Về yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:
Theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động trong họt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Từ ngày 26/7/2021, bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng TMCP S đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là phù hợp theo thỏa thuận tại mục 8.2 Điều 8 của các Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 23/01/2018; Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 24/4/2019.
Tại mục 1.4 Điều 1 của cả 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên, các bên thỏa thuận về lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phải thanh toán tiền lãi là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể tiền lãi của từng Hợp đồng tín dụng:
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: nợ lãi trong hạn: 474.271.102 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.284.711 đồng);
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: nợ lãi trong hạn: 327.735.965 đồng, nợ lãi quá hạn: 42.696.070 đồng).
Việc Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nêu trên là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQQ –HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 có nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 27/9/2024 là: 3.648.587.848 đồng (bằng chữ: Ba tỷ sáu trăm bốn mươi tám triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 cho đến khi bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định. H3 lại tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[5] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoàn 3 Điều 36; điểm b, khoản 1 Điều 36; điểm b, khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3, Điều 40; Điều 117, điều 385; Điều 401; khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí;
Căn cứ khoản 2 Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQQ -HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2:
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 có nghĩa vụ thanh toán cho cho Ngân hàng TMCP S theo Hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 23/01/2018; Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300 ngày 24/4/2019 và Các khế ước nhận nợ số 01-48/2019/HĐTDTDH –CN/SHB.120300 ngày 25/4/2019; Khế ước nhận nợ số 01-175/2018/HĐTDTDH –CN/SHB.120300 ngày 24/01/2018 tạm tính đến ngày 27/9/2024 tổng số tiền là: 3.648.587.848 đồng (bằng chữ: Ba tỷ sáu trăm bốn mươi tám triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi tám đồng). Cụ thể:
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 48/2018/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 2.098.955.813 đồng (trong đó nợ gốc: 1.600.400.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 474.271.102 đồng, nợ lãi quá hạn: 24.284.711 đồng);
- + Theo Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 175/2019/HĐTDTDH-CN/SHB.120300: 1.549.632.035 đồng (trong đó nợ gốc: 1.179.200.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 327.735.965 đồng, nợ lãi quá hạn: 42.696.070 đồng).
Bà H1 và ông H2 còn phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2024 theo hai Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ nói trên cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
+ Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ toàn bộ khoản tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP S thì Ngân hàng TMCP S được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP S các tài sản đảm bảo sau:
Toàn bộ các quyền tài sản, tài sản và lợi ích khác thuộc sở hữu hợp pháp của bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phát sinh từ Hợp đồng chuyển nhượng đất ở gắn với hạ tầng kỹ thuật số NV09-21/HĐMBNƠ-HUDNT ngày 31/12/2014 ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với Công ty CP P thuộc dự án Khu đô thị M; Phụ lục hợp đồng số 01PL/ NV09-21/HĐMBNƠ-HUDNT ngày 17/01/2018 về việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất ở số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị Út H1 và Công ty CP P và các văn bản/Phụ lục sửa đổi bổ sung của Hợp đồng này.
+ Sau khi bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP S, thì Ngân hàng TMCP S phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 bản chính Hợp đồng chuyển nhượng đất ở gắn với hạ tầng kỹ thuật số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ngày 31/12/2014 ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với Công ty CP P thuộc dự án Khu đô thị M; Phụ lục hợp đồng số 01PL/ NV09-21/HĐMBNƠ-HUDNT ngày 17/01/2018 về việc chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mua bán quyền sử dụng đất ở số NV09-21/HĐMBNO-HUDNT ký giữa ông Đàm Ngọc T, bà Nguyễn Thị Huyền N với ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị Út H1 và Công ty CP P và các văn bản/Phụ lục sửa đổi bổ sung của Hợp đồng này.
2/ Án phí: Bà Nguyễn Thị Út H1 và ông Nguyễn Văn H2 phải nộp án phí DSST là 104.971.756 đồng (Một trăm lẻ bốn triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi sáu đồng)
H3 lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 55.721.000 đồng (Năm mươi lăm triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0011548 ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
3/ Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
4/. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5/. Quy định: Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Minh |
Bản án số 143/2024/DSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 143/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: SHB yêu cầu vc bà HUyền trả nợ
