1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 9 -2024 V/v ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngát.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Song Hoàn;
- Ông Nguyễn Văn Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vững - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa:
Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 397/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/QĐST-HPT ngày 30-8-2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc Á, sinh năm 1985 (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: B F N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Ngọc Á trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn T quen nhau năm 2007 và đến năm 2010 thì vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 203, quyển số 01/2010 ngày 23/11/2010. Sau khi kết hôn, bà và ông T chung sống tại nhà riêng địa chỉ số B F N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Trần Việt A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 08/11/2014.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2021 cho đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do không cùng quan điểm sống, phương pháp dạy dỗ con cái, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau.
Tháng 7/2023, ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, bà phát hiện và yêu cầu ông T chấm dứt quan hệ. Ông T đã viết bản cam kết hứa sẽ chấm dứt và không tái phạm nhưng ông T không chấm dứt. Vì vậy, bà xác định không còn tình
2
cảm với ông T và có đơn khởi kiện và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu giải quyết các vấn đề sau:
Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
Về con chung: Bà và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Trần Việt A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 08/11/2014. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: ông có nhận được thông báo của tòa, ông có nguyện vọng được Tòa án chuyển vụ án về gia đình và địa phương giải quyết. Sau thời gian hòa giải không được, ông xin phép tòa giải quyết theo đơn và nguyện vọng của ông và bà Á.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Trần Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T là có thật, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng có thời gian ly thân từ tháng 6/2024 cho đến nay, mục đích hôn nhân không đạt nên có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: giao con chung cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Ngọc Á yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn T cư trú tại thành phố V nên xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa thì thấy:
Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 203, quyển số 01/2010 ngày 23/11/2010 nên hôn nhân là hợp pháp.
Bà Trần Ngọc Á cương quyết yêu cầu ly hôn vì cho rằng hôn nhân giữa bà và ông T không thể kéo dài, thời gian ly thân, vợ chồng cũng nhiều lần tìm cách hàn
3
gắn gia đình nhưng không có kết quả. Quá trình giải quyết vụ án, tòa án tổ chức hòa giải để các bên hòa giải tìm cách hàn gắn gia đình nhưng không đạt.
Hội đồng xét xử xét thấy, trình bày của đương sự phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương và nhận thấy mâu thuẫn hôn nhân giữa bà Trần Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T là có thật, mâu thuẫn trầm trọng, khả năng đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa bà Á và ông T không thể thực hiện được, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Trần Ngọc Á là có căn cứ nên chấp nhận.
[2.2 ] Về con chung: Bà Trần Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T có 02 con chung tên Nguyễn Trần Việt A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày 08/11/2014. Bà Á có yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Theo kết quả xác minh tại địa phương, từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, 02 con chung ở cùng với bà Á và ông T.
Quá trình nuôi dạy con, bà Á là người mẹ chăm sóc các con chu đáo. Hơn nữa 02 con chung đều có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, để tránh bị xáo trộn và nhằm đảm bảo sự phát triển về thể chất, tinh thần tốt nhất cho 02 con chung, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Nguyễn Trần Việt A và Nguyễn Trần Khánh L cho bà Trần Ngọc Á là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con chung, trên cơ sở yêu cầu của một hoặc các bên đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Ngọc Á phải nộp 300.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 2, 3 Điều 36 điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ngọc Á đối với ông Nguyễn Văn T.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc Á được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
[2]. Về con chung: Bà Trần Ngọc Á và ông Nguyễn Văn T có 02 con chung tên tên Nguyễn Trần Việt A, sinh ngày 02/01/2012 và Nguyễn Trần Khánh L, sinh ngày
4
08/11/2014.
Bà Trần Ngọc Á được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Trần Việt A và Nguyễn Trần Khánh L. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, trên cơ sở yêu cầu của một hoặc các bên đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[ 3]. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên tòa án không xem xét.
[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Ngọc Á phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000397 ngày 12-7-2024 của Chi cục Thi hành dân sự thành phố V. Bà Á đã nộp đủ.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Ngát |
Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về ly hôn
- Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Ánh- Nguyễn Văn Tuyên
