Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-9-2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Hồ Quốc Văn

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2022/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc Đ; Sinh năm: 1980 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật gia Hồ Vũ P thuộc Trung tâm T1 (Có mặt);

- Bị đơn: Anh Hứa Vũ L; Sinh năm: 1986; (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau;

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Văn N thuộc Công ty L2.

Địa chỉ: Số A N, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Nguyễn Thị Ngọc T; Sinh năm: 1981 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

2/ Bà Lý Thị K; Sinh năm: 1964 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã A, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: Nhà không số, đường N, khóm F, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

3/ Ông Đỗ Vũ Duy L1 - Sinh năm: 1974 và bà Huỳnh Thị H - 1976 (Vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp D, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu,

Bà K, ông L1 và bà H cùng ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Ngọc T tham gia tố tụng.

4/ Anh Lý Tẩu N1 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

5/ Ngân hàng Thương mại cổ phần V – Chi nhánh C.

Địa chỉ: Số A N, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Ông Lê Văn M – Chuyên viên xử lý nợ của Ngân hàng (Có mặt);

6/ Anh Lâm Minh N2 – Sinh năm 1988 (Vắng mặt);

7/ Chị Võ Kiều N3 – Sinh năm 1988 (Vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc Đ trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đ và anh L có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 17/05/2017. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hôn nhân không thể kéo dài, chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: 01 căn nhà và đất bảo lưu ven sông ngang 12m x dài 12m, trị giá khoảng 800.000.000 đồng tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do là đất bảo lưu ven sông, nhưng khi mua năm 2018 hai bên có làm hợp đồng mua bán có chính quyền ấp xác nhận.

01 xe Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33 do anh L đứng tên và đang quản lý. Giấy tờ xe đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP V để vay tiền.

Về nợ chung: Nợ chị Nguyễn Thị Ngọc T ở ấp C, xã T số tiền 300.000.000 đồng, là tiền vay để cất nhà và mua xe.

Nợ bà Lý Thị K ở phường I, thành phố C số tiền 150.000.000 đồng là tiền vay để làm ăn, mua xe và cất nhà.

Nợ bà Huỳnh Thị H và ông Đỗ Vũ Duy L1 ở thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu số tiền 420.000.000 đồng. Chị Đ yêu cầu anh L chia đôi 03 khoản nợ này.

Bị đơn anh Hứa Vũ L trình bày:

Anh L thống nhất với lời trình bày của chị Đ về các vấn đề hôn nhân và con chung và không thống nhất đối với phần tài sản chung và nợ chung mà chị Đ đã trình bày. Theo anh L thì tài sản chung của vợ chồng gồm có:

+ 01 căn nhà và đất bảo lưu ven sông ngang 12m x dài 12m, trị giá khoảng 800.000.000 đồng tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do là đất bảo lưu ven sông, nhưng khi mua năm 2018 hai bên có làm hợp đồng mua bán có chính quyền ấp xác nhận.

+ 01 xe Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33 do anh L đứng tên và đang quản lý. Giấy tờ xe đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP V.

- Về nợ chung: Theo anh L vợ chồng có các khoản nợ gồm:

+ Nợ anh Lý Tẩu N1, địa chỉ ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau số tiền 200.000.000 đồng, là tiền vợ chồng mượn để mua xe.

+ Nợ Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh C số tiền khoảng 300.000.000 đồng, là số tiền vay thế chấp để mua xe kể trên.

Nay anh L yêu cầu nhận căn nhà và đất, anh L đồng ý giao lại 400.000.000 đồng cho chị Đ, đối với chiếc xe Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33 anh L yêu cầu được nhận xe và nhận trách nhiệm trả toàn bộ khoản nợ của anh Lý Tẩu N1 và Ngân hàng V. Đối với các khoản nợ của chị T, bà K, bà H và ông L1 anh L không thừa nhận và không đồng ý cùng trả với chị Đ.

Chị Đ trình bày bổ sung: Chị Đ không thống nhất với lời trình bày của anh L về phần tài sản chung và nợ chung. Theo chị Đ căn nhà và đất là tài sản riêng của chị Đ có trước khi kết hôn với anh L. Khi kết hôn thì anh chị sống tại ngôi nhà này, trước khi kết hôn với anh L thì trên phần đất có căn nhà bằng cây gỗ đã cũ, khi kết hôn thì anh chị xây cất lại căn nhà mới vào 2021. Trước yêu cầu của anh L đối với căn nhà và đất chị không đồng ý.

Đối với chiếc xe thì chị Đ thống nhất là tài sản chung của vợ chồng, chị yêu cầu chia đôi, chị đồng ý giao xe cho anh L và yêu cầu được nhận ½ giá trị của chiếc xe.

Về phần nợ chung: Chị Đ thống nhất khoản nợ của Ngân hàng V là nợ chung và đồng ý nhận trách nhiệm trả ½ số nợ này. Đối với nợ anh của anh Lý Tẩu N1 chị không biết, không đồng ý trả khoản nợ này.

Anh L trình bày bổ sung: Riêng 03 khoản nợ chị Đ kê gồm nợ chị T, bà K và bà H và ông L1 thì anh L không biết và không đồng ý trả. Theo anh L đây là nợ

riêng của chị Đ, tiền cất nhà là tiền anh đưa ra, không có chuyện vay mượn người khác để cất nhà.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 31/10/2022 của chị Nguyễn Thị Ngọc T trình bày: Ngày 01/02/2021 chị Đ và anh L có vay của chị số tiền 300.000.000 đồng để làm vốn mua cua, lãi suất 2%/tháng. Khi vay hai bên có làm biên nhận nợ do chị Đ ký nhận, anh L tuy không ký tên nhưng có biết khoản nợ này và hứa trả nhiều lần nhưng đến nay anh L và chị Đ chưa thanh toán vốn và lãi của khoản vay trên. Nay chị T yêu cầu chị Đ và anh L trả số tiền vay 300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 28/10/2022 của bà Lý Thị K trình bày: Ngày 01/02/2021 chị Đ có vay của bà số tiền 150.000.000 đồng để làm vốn mua cua, lãi suất 2%/tháng. Khi vay hai bên có làm biên nhận nợ do chị Đ ký nhận, anh L tuy không ký tên nhưng có biết và hứa trả nhiều lần. Từ khi vay chị Đ và anh L có đóng lãi được 2,5 tháng tiền lãi bằng số tiền 7.500.000 đồng rồi không đóng nữa. Đến nay anh L và chị Đ chưa thanh toán vốn và lãi của khoản vay trên. Nay bà K yêu cầu chị Đ và anh L trả số tiền vay 150.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 27/02/2023 của bà Huỳnh Thị H và ông Đỗ Vũ Duy L1 trình bày: Ngày 28/12/2021 chị Đ và anh L có mượn của ông bà số tiền 420.000.000 đồng để làm vốn mua cua và hẹn sau 01 năm sẽ trả lại. Khi vay hai bên có làm biên nhận nợ do chị Đ ký nhận, có xác nhận của trưởng ấp, anh L tuy không ký tên nhưng có thừa nhận nợ và hứa trả nhưng đến nay anh L và chị Đ chưa thanh toán số tiền trên. Nay ông bà yêu cầu chị Đ và anh L trả số tiền vay 420.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 19/6/2023 và bản tự khai ngày 12/9/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần V trình bày: Anh L và chị Đ có ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng vào ngày 10/6/2021 vay số tiền vốn 392.000.000 đồng, mục đích vay thanh toán tiền mua xe ô tô, thỏa thuận thế chấp xe ô tô nhãn hiệu Huyndai biển số 69A-098.33 và hợp đồng mở thẻ tín dụng, mục đích vay tiêu dùng. Tính đến ngày 13/9/2024 anh L và chị Đ còn nợ lại Ngân hàng là 364.941.444. Trong đó nợ vốn số tiền 274.953.185, nợ lãi số tiền 89.988.259 đồng. Khi Tòa án giải quyết cho ly hôn thì Ngân hàng yêu cầu anh L và chị Đ trả nợ vay và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án chị Đ có cung cấp thông tin căn nhà tranh chấp được anh L bán cho anh Lâm Minh N2, hiện tại anh N2 đang quản lý, sử dụng căn nhà. Tòa án đã liên hệ trực tiếp với anh N2 và chị N3 nhưung anh chị không hợp tác, từ chối nhận các văn bản của Tòa án và không có ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đối với anh Hứa Vũ L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng trong vụ án và triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng anh L vắng mặt tại phiên

tòa không lý do.

Đối với anh Lý Tẩu N1, anh Lâm Minh N2, chị Võ Kiều N3 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng trong vụ án và triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng anh N1, anh N2 và chị N3 không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Tại phiên tòa:

Chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau”:

Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Yêu cầu xác định tài sản chung của vợ chồng là giá trị căn nhà tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau và 01 xe ô tô Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33. Chị Đ yêu cầu chia đôi giá trị nhà và xe, chị nhận nhà và giao ½ giá trị nhà cho anh L. Đối với xe chị đồng ý giao xe cho anh L và chị nhận ½ giá trị xe.

Đối với nợ chung: Yêu cầu xác định các khoản nợ chung của vợ chồng gồm có:

Nợ chị T số tiền 300.000.000 đồng

Nợ bà K số tiền 150.000.000 đồng

Nợ bà H ông L1 420.000.000 đồng

Nợ Ngân hàng V số tiền 364.941.444 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký.

Chị Đ yêu cầu chia đôi các khoản nợ trên, buộc anh L cùng có nghĩa vụ trả nợ chung.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi lẽ nhà có nguồn gốc của chị Đ có trước khi kết hôn với anh L và hiện nay chị Đ không có chỗ ở nên đề nghị giao nhà cho chị Đ, do xe do anh L đang quản lý nên chị Đ tự nguyện giao xe cho anh L. Đối với các khoản nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân được vay mượn để cất nhà, mua xe và làm vốn thu mua cua nên cần buộc anh L có nghĩa vụ trả nợ chung.

Chị T yêu cầu buộc chị Đ và anh L cùng có nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản nợ gồm: Nợ chị T số tiền 300.000.000 đồng, nợ bà K số tiền 150.000.000 đồng, nợ bà H ông L1 420.000.000 đồng. Việc vay mượn tuy anh L không ký tên nhưng anh L có gặp các chủ nợ và thừa nhận số nợ này, cũng không có ý kiến phản đối gì.

Anh M yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của Ngân hàng đối với hộ vay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh L. Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Yêu cầu chia đôi giá trị căn nhà tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau và 01 xe ô tô Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33.

Chị Đ nhận nhà và giao ½ giá trị nhà cho anh L. Anh L nhận xe và giao ½ giá trị xe.

Đối với nợ chung: Các khoản nợ chung của vợ chồng gồm có: Nợ chị T số tiền 300.000.000 đồng, nợ bà K số tiền 150.000.000 đồng, nợ bà H ông L1 420.000.000 đồng, nợ Ngân hàng TMCP V số tiền 364.941.444 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký. Chị Đ và anh L mỗi người có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ cho các chủ nợ kể trên.

Không chấp nhận yêu cầu của anh L về việc chia đôi phần đất theo đo đạt thực tế 128,3 m² thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 01 (bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2018), tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Ngọc T, bà Lý Thị K, bà Huỳnh Thị H ông Đỗ Vũ Duy L1 về việc buộc chị Đ và anh L thanh toán nợ vay. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP V về việc buộc chị Đ thanh toán nợ vay và xử lý tài sản thế chấp. Duy trì hợp đồng thế chấp để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Huỳnh Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Hứa Vũ L. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh L có nơi cư trú tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với anh Hứa Vũ L, bà Lý Thị K, ông Đỗ Vũ Duy L1 và bà Huỳnh Thị H, anh Lý Tẩu N1, anh Lâm Minh N2, chị Võ Kiều N3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để

xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng bà K, ông L1 bà H vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền có mặt, anh L, anh N1, anh N2, chị N3 vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự kể trên.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Đ và anh L tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 17/05/2017. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, mặc dù được gia đình hàn gắn nhiều lần cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Xét thấy, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án có mở các phiên hòa giải để anh chị có cơ hội gặp nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng cả hai đều thống nhất ly hôn. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Đ được ly hôn với anh L.

[2.2] Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Anh chị đều thống nhất tài sản chung của vợ chồng gồm có:

+ 01 căn nhà và đất tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Chị Đ không yêu cầu đối với phần đất mà chỉ yêu cầu được nhận nhà và hoàn lại ½ giá trị nhà cho anh L.

Tại bản trích đo hiện trạng lập ngày 01/8/2023 của Công ty TNHH P1 thể hiện phần đất tranh chấp được giới hạn bởi các mốc M1-M2-M3-M4-M1 có tổng diện tích theo đo đạc thực tế 128,3 m² thuộc thửa đất số 522, tờ bản đồ số 01 (bản đồ địa chính chỉnh lý năm 2018), tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tại Công văn số 48 ngày 16/01/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 522 tờ bản đồ số 01 là đất giao thông, do UBND xã T quản lý nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu chia đất của anh L đối với phần đất trên.

Tại chứng thư thẩm định giá xác định giá trị công trình xây dựng trên đất là 318.931.000 đồng (làm tròn số). Xét đây là tài sản chung của vợ chồng nên chia đôi là phù hợp, do nguồn gốc căn nhà là của chị Đ có trước khi kết hôn và chị Đ đang có nhu cầu về chỗ ở nên cần giao chị Đ được quản lý sử dụng căn nhà trên và có nghĩa vụ hoàn lại cho anh L ½ giá trị bằng số tiền 159.465.500 đồng.

+ Đối với 01 xe Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33 do anh L đứng tên và đang quản lý được định giá 380.322.000 đồng anh chị thỏa thuận chia đôi, giao xe cho anh L quản lý, sử dụng. Như vậy anh L được quản lý sử dụng 01 xe

Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33 và giao lại ½ giá trị xe cho chị Đ bằng số tiền 190.161.000 đồng.

Đối trừ với số tiền được nhận từ giá trị căn nhà thì anh L có nghĩa vụ hoàn lại cho chị Đ phần chênh lệch bằng số tiền 30.695.500 đồng.

[2.4] Về nợ chung: Chị Đ thừa nhận các khoản nợ gồm nợ chị T 300.000.000 đồng, nợ bà K 150.000.000 đồng, nợ bà H và ông L1 420.000.000 đồng và nợ Ngân hàng V số tiền 364.941.444 đồng là nợ chung.

Anh L chỉ thừa nhận các khỏan nợ của Ngân hàng V và nợ anh Lý Tẩu N1. Tuy nhiên anh N1 không có yêu cầu trong vụ án này nên không có cơ sở để xem xét. Đối với các khoản nợ của chị T, bà K, anh L1 và chị H anh L không thừa nhận.

Xét các khoản nợ chung của anh L và chị Đ thấy rằng: Anh L và chị Đ đều thừa nhận khi anh chị sống chung có xây nhà vào năm 2021 và kinh doanh thu mua cua là có thật. Tại biên bản lấy lời khai của đương sự vào ngày 09/5/2024, anh L thừa nhận anh chị cùng thu mua cua từ năm 2015 đến năm 2022, việc xây nhà lấy lợi nhuận từ việc thu mua cua. Như vậy, xét thời điểm vay mượn theo trình bày của chị Đ và các chủ nợ về mục đích vay mượn tiền để xây nhà và làm vốn mua cua là có cơ sở nên cần xác định các khoản nợ này là nợ chung của vợ chồng và buộc chị Đ và anh L cùng có nghĩa vụ trả nợ chung. Do tài sản được chia đôi nên anh L và chị Đ cũng có nghĩa vụ như nhau trong thanh toán các khoản nợ trên. Do đó, chấp nhận yêu cầu chia tài sản và nợ của anh L chị Đ, chấp nhận yêu cầu độc lập của chị T, bà K, bà H ông L1 và Ngân hàng V là có căn cứ.

Như vậy có cơ sở xác định các khoản nợ chung của chị Đ và anh L và phân chia như sau:

Nợ chị T số tiền 300.000.000 đồng, anh L có nghĩa vụ trả cho chị T 150.000.000 đồng, chị Đ có nghĩa vụ trả cho chị T 150.000.000 đồng.

Nợ bà K số tiền 150.000.000 đồng, anh L có nghĩa vụ trả cho bà K 75.000.000 đồng, chị Đ có nghĩa vụ trả cho bà K 75.000.000 đồng. Đối với số tiền lãi đã đóng cho bà K do các bên tự nguyện thỏa thuận về lãi suất và không có yêu cầu nên không xem xét.

Nợ bà H ông L1 420.000.000 đồng, anh L có nghĩa vụ trả cho bà bà H ông L1 210.000.000 đồng, chị Đ có nghĩa vụ trả cho bà H ông L1 210.000.000 đồng.

Nợ Ngân hàng V số tiền 364.941.444 đồng, anh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 182.470.722 đồng, chị Đ có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng 182.470.722 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký.

[3] Đối với anh Lý Tẩu N1, anh Lâm Minh N2 và chị Võ Kiều N3 không có yêu cầu trong vụ án này. Trường hợp có yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án khác.

[4] Chi phí đo đạc thẩm định 3.785.000 đồng, định giá 5.000.000 đồng, tổng cộng 8.785.000 đồng được chi Điệp tạm ứng thanh toán. Do chị Đ và anh L mỗi

người nhận ½ phần tài sản chung nên phải chịu ½ chi phí này vì vậy anh L có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị Đ số tiền 4.392.500 đồng

[5] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp đương sự chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự;

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí có giá ngạch trên số tiền phải trả cho các chủ nợ. Anh L phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền phải trả cho các chủ nợ và phần yêu cầu chia tài sản không được chấp nhận. Chị T, bà K, bà H ông L1 và Ngân hàng V không phải chịu án phí, có dự nộp được nhận lại.

[7] Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

[8] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tại phiên tòa là có cơ sở để chấp nhận.

[9] Xét đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Đ là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, 59, 62 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, 157,165, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ngọc Đ về việc ly hôn với anh Hứa Vũ L.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Ngọc Đ được ly hôn với anh Hứa Vũ L.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung:

Giao chị Huỳnh Ngọc Đ được quản lý, sử dụng 01 căn nhà có diện tích xây dựng 136,9 m² tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Buộc anh Hứa Vũ L có nghĩa vụ giao lại 01 căn nhà có diện tích xây dựng 136,9 m² tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau nêu trên cho chị Huỳnh Ngọc Đ được quản lý, sử dụng.

Giao anh Hứa Vũ L được tiếp tục quản lý, sử dụng 01 xe ô tô hiệu Huyndai Accent, biển kiểm soát 69A-098.33 do anh L đứng tên và đang quản lý, sử dụng.

Buộc anh Hứa Vũ L có nghĩa vụ thanh toán cho Chị Huỳnh Ngọc Đ số tiền 30.695.500 đồng.

Về nợ chung: Buộc anh L và chị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn Thị Ngọc T số tiền 300.000.000 đồng, thanh toán cho bà Lý Thị K số tiền 150.000.000 đồng, thanh toán cho bà Huỳnh Thị H và ông Đỗ Vũ Duy L1 số tiền 420.000.000 đồng, thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền 364.941.444 đồng và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký.

2. Không chấp nhận yêu cầu của anh Hứa Vũ L về việc chia đôi phần đất theo đo đạt thức tế 128,3 m² tọa lạc tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Nguyễn Thị Ngọc T về việc yêu cầu chị Đ và anh L thanh toán số tiền nợ vay 300.000.000 đồng.

Buộc anh Hứa Vũ L có nghĩa vụ thanh toán cho chị T số tiền 150.000.000 đồng.

Buộc chị Huỳnh Ngọc Đ có nghĩa vụ thanh toán cho chị T số tiền 150.000.000 đồng.

4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lý Thị K về việc yêu cầu chị Đ và anh L thanh toán số tiền nợ vay 150.000.000 đồng.

Buộc anh Hứa Vũ L có nghĩa vụ thanh toán cho bà K số tiền 75.000.000 đồng.

Buộc chị Huỳnh Ngọc Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà K số tiền 75.000.000 đồng.

5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị H và ông Đỗ Vũ Duy L1 về việc yêu cầu chị Đ và anh L thanh toán số tiền nợ vay 420.000.000 đồng.

Buộc anh Hứa Vũ L có nghĩa vụ thanh toán cho bà H và ông L1 số tiền 210.000.000 đồng.

Buộc chị Huỳnh Ngọc Đ có nghĩa vụ thanh toán cho bà H và ông L1 số tiền 210.000.000 đồng.

6. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần V về việc buộc hộ vay thanh toán nợ vay.

Buộc chị Huỳnh Ngọc Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 182.470.722 đồng.

Buộc anh Hứa Vũ L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 182.470.722 đồng đồng.

Trường hợp chị Đ và anh L chậm thanh toán cho Ngân hàng thì phải chịu thêm tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký tương ứng với số tiền bị buộc thanh toán cho Ngân hàng.

Duy trì hợp đồng thế chấp số LN2106013820494 ngày 10/6/2021 đối với tài sản thế chấp để ưu tiên thu hồi nợ cho Ngân hàng.

7. Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạt và thẩm định giá tài sản chị Đ và anh L mỗi người phải chịu số tiền 4.392.500 đồng. Buộc anh L có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Đ số tiền 4.392.500 đồng.

8. Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

9. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Huỳnh Ngọc Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng và án phí có giá ngạch số tiền 28.698.800 đồng. Tổng cộng bằng số tiền 28.998.800 đồng. Ngày 01/6/2022 chị Đ có dự nộp 300.000 đồng biên lai số 0015005, ngày 14/3/2023 chị Đ có dự nộp 14.000.000 đồng biên lai số 0003459, tổng cộng 14.300.000 đồng được đối trừ, còn lại phải nộp tiếp số tiền 14.698.800 đồng.

Anh Hứa Vũ L phải chịu án phí có giá ngạch số tiền 31.237.200 đồng. Ngày 13/6/2023 anh L có dự nộp 14.000.000 đồng biên lai số 0003695 được đối trừ, còn lại phải nộp tiếp số tiền 17.237.200 đồng.

Ngày 14/3/2023, chị Nguyễn Thị Ngọc T đại diện cho bà H ông D có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 10.500.0000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003458 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.

Ngày 01/12/2022, chị Nguyễn Thị Ngọc T có nộp tạm ứng án phí số tiền 7.500.0000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003203 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.

Ngày 01/12/2022, bà Lý Thị K có nộp tạm ứng án phí số tiền 3.750.0000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003204 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.

Ngày 01/12/2022, Ngân hàng thương mại cổ phần V có nộp tạm ứng án phí số tiền 7.181.500 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003747 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.

10. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

11. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và

9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- Tòa án tỉnh Cà Mau;

- VKSND huyện Thới Bình;

- Chi cục THADS huyện Thới Bình;

- UBND xã Thới Bình;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Phạm Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger