Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-8-2024

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị An Thư.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thành Dương; Ông Đàm Kiến Dân
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Gò Công.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Trường Bảo Vy, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 75a/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Mai Thanh H, sinh năm 1994; (Xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: H, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Bị đơn: anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1994; (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp H, Xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải nguyên đơn chị Mai Thanh H trình bày: chị và anh Nguyễn Thành L quen biết, tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2016. Vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn do chị H phát hiện anh L ăn chơi cờ bạc gây nợ, nhiều lần chị trả nợ thay anh, nhưng anh vẫn tánh nào tật nấy không thay đổi. Chị và anh đã ly thân và đến nay chị không còn tình cảm vợ chồng với anh. Nên chị quyết định ly hôn anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 18/5/2017, hiện nay chị H đang chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, chị H yêu cầu tiếp tục nuôi con không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Thành L không đến để trình bày ý kiến về việc xin ly hôn và nuôi con chung, cũng như tài sản chung. Mặc dù anh L đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Tại phiên tòa:

  • - Chị Mai Thanh H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  • - Anh Nguyễn Thành L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng Thông báo thụ lý, thông báo thu thập tài liệu chứng cứ, triệu tập mời hòa giải, dự phiên tòa lần thứ 2 nhưng anh L vẫn vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Đương sự H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Riêng đương sự L đã từ bỏ quyền tố tụng và không chấp hành nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quy định đối với những người tiến hành tố tụng.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh L ; Về con chung cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 18/5/2017, hiện đang do chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, theo yêu cầu của chị H mong muốn trực tiếp tiếp tục nuôi con và cũng đáp ứng theo nguyện vọng của cháu vẫn mong muốn được chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị H làm công nhân thu nhập có thu nhập 8 triệu đồng/ tháng có điều kiện nuôi con. Mặt khác anh L không có ý kiến tranh chấp nuôi con căn cứ theo Điều 81, 82, 83 đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị H.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị H trình bày không có, nếu sau vụ án này, anh L chứng minh được có tài sản chung và nợ chung với anh L sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
  • Về án phí sơ thẩm thì chị H chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Mai Thanh H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Thành L trước đây anh L có thời gian dài tạm trú tại địa chỉ 2806/36/22, tổ C, ấp E, xã P, huyện N ( số cũ H, Tổ C, ấp E, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh nên chị H gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện nhà Bè để xin ly hôn. Tòa án nhân dân huyện nhà Bè thụ lý và giải quyết. Trong quá trình giải quyết thì anh L không còn ở địa chỉ trên, mà trở về nơi thường trú của anh L ở ấp H, xã B, thành phố G, Tiền Giang để sinh sống. Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xác minh hộ khẩu của anh L. Sau đó có quyết định chuyển vụ án số 179/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh chuyển về Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Gang để giải quyết theo thẩm quyền. Và Tòa án nhân dân thành phố Gò Công tiến hành xác minh hộ khẩu của anh Nguyễn Thành L có nơi cư trú ấp H, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố Gò Công thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Thành L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa, nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, chị H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy, chị Mai Thanh H và anh Nguyễn Thành L tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Chị H và anh L sau khi sống chung một thời gian, chị H phát hiện anh L ăn chơi cờ bạc gây nợ, bỏ bê gia đình. Chị cố gắng trả nợ thay anh nhưng anh L vẫn không thay đổi. Nhận thấy vợ chồng anh chị không còn tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn, mỗi người một nơi không còn cơ hội để hàn gắn. Chị H xin ly hôn, anh L nhận được thông báo thụ lý, 02 lần thông báo hòa giải, nhưng anh không có ý kiến phản hồi và mong muốn tòa hòa giải để vợ chồng anh trở lại đoàn tụ. Điều này chứng minh rằng anh không còn muốn níu kéo cuộc hôn nhân này và không còn tha thiết cùng chung sống với chị H, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cho chị H được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.1] Về con chung: Vợ chồng chị, có một con chung, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện nuôi con của chị H làm công nhân có thu nhập có điều kiện nuôi con, đồng thời chị H cũng không có yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Anh L cũng không có ý kiến về việc nuôi con chung và cũng đáp ứng nguyện vọng của cháu Nguyễn Quốc T mong muốn chị H tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, nên giao con cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi là phù hợp với Điều 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về tài sản chung: chị H xác định không có, anh L không phản hồi ý kiến tranh chấp chia tài sản chung với anh L trong vụ án này. Nếu sau này anh L có yêu cầu chia tài sản chung thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[2.3] Về nợ chung: chị H xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì chị H và anh L vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chi Mai Thanh H chịu án phí theo quy định.

[4] Các đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với những nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
  • - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thanh H.

  • - Về hôn nhân: chị Mai Thanh H được ly hôn với anh Nguyễn Thành L
  • - Về con chung: chị Mai Thanh H được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 18/05/2017, chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Khi án có hiệu lực pháp luật nếu xét thấy cần thiết chị H và anh L có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng.

Về án phí sơ thẩm:

chị Mai Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2003/0007730 ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, chị H đã nộp xong án phí.

Về quyền kháng cáo:

Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Án T1 kết thúc cùng ngày

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công;
  • - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gò Công;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh.
  • - UBND xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ. án văn.09.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị An Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Chị Mai Thanh H, sinh năm 1994; (Xin vắng mặt) Địa chỉ: H, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bị đơn: anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1994; (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp H, Xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger