|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HNGĐ – ST Ngày: 20 – 08 – 2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Mỹ Hường
2. Ông Trần Thanh Việt.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 268/2024/TLST–HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 474/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 05/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 477/2024/QĐST – HNGĐ ngày 01/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Bé B, sinh năm 1981
Địa chỉ: Số D T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Lê Trường H, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số C N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, bà Trương Thị B1 Ba vắng mặt (có đơn đề nghị được vắng mặt); ông Lê Trường H vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2024, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trương Thị Bé B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Trường H tự quen biết, tìm nhau được vài tháng thì tiến đến hôn nhân. Ông, bà không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND phường M ngày 18/7/2001. Hôn nhân lần thứ nhất của ông bà. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống tại nhà của mẹ ruột bà là số 44 đường T, khóm B, phường M được khoảng 01 tháng thì ông H về lại nhà của ông H là số C N để ở. Quá trình chung sống, bà không cảm nhận được hạnh phúc do ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và tranh cãi. Ông H thường xuyên hành hung bà. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H ham mê cờ bạc, gái gú. Bà và mẹ của bà khuyên can nhưng ông H không có thay đổi. Bà và ông H đã ly thân hơn 13 năm qua. Hiện nay, bà và ông H đều đã có gia đình riêng nên bà gửi đơn yêu cầu được ly hôn. Trước khi gửi đơn ly hôn, bà có gặp ông H để trao đổi, ông H cũng đồng ý và đề nghị bà gửi đơn.
Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Lê Kim G, sinh ngày 10/7/2001 và Lê Kim N, sinh ngày 11/3/2004. Hiện các con chung đã thành niên nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông H vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Bà B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS).
Về nội dung: Nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông H đã không còn tồn tại từ nhiều năm qua nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B. Về con chung, nhận thấy, ông bà có hai con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét về việc nuôi dưỡng con khi ly hôn. Do ông H không có ý kiến tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Tranh chấp giữa bà Trương Thị Bé B và ông Lê Trường H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường M, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
[2] Xét thấy, qua kết quả xác minh tình trạng cư trú ngày 05/7/2024 thể hiện, ông H đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số C N, phường M. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định ông H có nơi cư trú hợp pháp là địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, ông H tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Phía bà B có Đơn đề nghị được vắng mặt khi xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Bé B và ông Lê Trường H tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân phường M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 107 ngày 18/7/2001 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[4] Bà B cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do ông H có hành vi hành hung bà, ham mê cờ bạn và trai gái. Phía ông H được Tòa án nhiều lần triệu tập, tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tuy nhiên, ông H vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà B, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa. Như vậy, ông H đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của BLTTDS và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, bà B và ông H không còn quan tâm lẫn nhau, mối quan hệ hôn nhân của ông bà không còn tồn tại từ lâu. Xét thấy, mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà B được ly hôn ông H.
[5] Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh số 207/KS/2001 ngày 19/7/2001 và bản sao Giấy khai sinh số 79/KS/2004 ngày 19/3/2004 của Ủy ban nhân dân phường M, là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định bà B và ông H có 02 con chung tên Lê Kim G, sinh ngày 10/7/2001 và Lê Kim N, sinh ngày 11/3/2004. Xét thấy, do các cháu G, cháu N đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của ông H về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[7] Về án phí: Bà Ba phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà B đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002208 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Bé B được ly hôn ông Lê Trường H.
- [2] Về con chung: Ông, bà có 02 (hai) con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động tên Lê Kim G, sinh ngày 10/7/2001 và Lê Kim N, sinh ngày 11/3/2004.
- [3] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
- [4] Về án phí: Bà Ba phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà B đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002208 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Xuân Khanh |
Bản án số 143/2024/HNGĐ – ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 143/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yc
