TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2024
V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Dương Triết Minh;
- 2. Ông Huỳnh Văn Tý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 16/02/2024 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 98/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1987 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số D, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Số điện thoại: 0788.853.xxx
2/ Bị đơn: Chị Huỳnh Thúy H, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A trình bày: Tôi với chị Huỳnh Thúy H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, ngày 18/10/2010. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 8/2011 do tôi thường xuyên uống rượu, không kiềm chế được có nói những câu nói làm vợ buồn lòng, cụ thể là ghen tuông với người yêu cũ của vợ nên vợ quyết định dẫn con bỏ về nhà mẹ ruột ở xã B, huyện T ở, vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Đến khi con gái đi học lớp 2 thì vợ giao con lại cho tôi nuôi. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Huỳnh Thúy H. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010 (đang sống với cha). Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, tôi không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con. Về quan hệ tài sản: Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đối với bị đơn chị Huỳnh Thúy H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Huỳnh Thúy H nhưng chị H đã vắng mặt không lý do nên không có lời khai của chị H.
Nguyện vọng của con chung: Tại biên bản ghi nhận ý kiến của người chưa thành niên ngày 27/3/2024, cháu Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010 có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha.
Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh Hoàng A, chị H tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Trần Thị P (mẹ ruột của anh Hoàng A) vào ngày 28/3/2024 thể hiện: “Do tự tìm hiểu khoảng 6 tháng mới tiến tới tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn thì có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010. Vợ chồng hai con chung sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2011 vợ chồng chúng mới bắt đầu mâu thuẫn do Hoàng A thường xuyên nhậu nhẹt, mỗi lần say xỉn thì lại ghen tuông bóng gió với vợ khiến H buồn, đến năm 2012 H dẫn con bỏ về nhà cha mẹ ruột ở. Năm 2020 H có gia đình khác nên mới gửi cháu N về cho Hoàng Anh n. Dù H làm ở xa nhưng vẫn chu cấp, lo lắng, thăm nom con bình thường. Gia đình tôi cũng tạo điều kiện cho mẹ con quan tâm lẫn nhau, cũng tiếp Hoàng A chăm lo cho cháu...”.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng A vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Huỳnh Thúy H vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Q về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng A được ly hôn với chị H. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010 cho anh Hoàng A được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét. Về án phí: Anh Hoàng A yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn chị Huỳnh Thúy H cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa chị H vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự; Anh Nguyễn Hoàng A vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng A tự nguyện chung sống với chị Huỳnh Thúy H và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, ngày 18/10/2010. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của anh Hoàng A, chị H phù hợp với lời khai của anh Hoàng A về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, cụ thể: Sau khi kết hôn, anh Hoàng A và chị H có thời gian đầu chung sống hạnh phúc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường hay cự cãi do tính tình không hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau, anh chị quyết định sống ly thân từ tháng 8/2011 cho đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không còn quan tâm nhau. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Hoàng A và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Hoàng A đối với chị H.
[2.2] Về con chung: Qua chứng cứ anh Hoàng A cung cấp cũng như kết quả xác minh tình trạng hôn nhân thì anh Nguyễn Hoàng A và chị Huỳnh Thúy H có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010 hiện đang sống với cha. Nhận thấy cháu N có nguyện vọng được sống với cha, anh Hoàng A đủ điều kiện trực tiếp nuôi con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án chị N không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của anh Hoàng A về con chung. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung tên Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010 cho anh Nguyễn Hoàng A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành n1 (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của cháu; Anh Hoàng A phải tạo điều kiện cho chị N được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết chị N có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Huỳnh Thúy H do các đương sự không yêu cầu.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Hoàng A trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Hoàng A là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.
[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng A.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hoàng A được ly hôn với chị Huỳnh Thúy H.
- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Hoàng A được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh Như N, sinh ngày 03/8/2010; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Huỳnh Thúy H do anh Nguyễn Hoàng A không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung:
- - Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Hoàng A trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- - Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Hoàng A trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi Bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Nguyễn Hoàng A và chị Huỳnh Thúy H phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Hoàng A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013600 ngày 16/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, anh Hoàng A đã nộp xong. Chị Huỳnh Thúy H không phải chịu án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Cẩm Xuyên |
Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
