Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN ĐƯỚC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-9-2024

V/v tranh chấp ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng;
  2. Ông Nguyễn Đăng Khoa;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 433/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1993;
  • Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Ngô Quang T, sinh năm 1993;
  • Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:

Bà H và ông T tiến tới hôn nhân vào năm 2017. Trước khi tiến tới hôn nhân vợ chồng có tìm hiểu nhau được khoảng 01 tháng. Vợ chồng bà H tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 115/2016 ngày 01/11/2016. Sau khi tiến tới hôn nhân, vợ chồng sống chung với gia đình bên chồng thời gian đầu. Sau đó, vợ chồng được cha mẹ chồng cho ra riêng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà H nguyên nhân mâu thuẫn là do bà H đi làm ở Công ty và công việc hằng ngày của bà H là xuất nhập hàng hóa để ra cảng, do tính chất công việc nên có đôi khi khách hàng liên lạc với bà H vào buổi tối, ông T không đồng ý và có nghi ngờ bà H. Ngoài ra, trong thời gian bà H làm việc thì cũng được cấp trên quý mến nên trong ngày lễ có gửi tặng hoa cho bà H, mặc dù bà H có giải thích là bà H không có gì vượt quá giới hạn trong mối quan hệ đồng nghiệp nhưng ông T vẫn không tin tưởng và vợ chồng ngày càng ít nói chuyện, tình cảm vợ chồng càng ngày càng lạnh nhạt. Mặc dù bà H đã nghỉ việc ở Công ty cũ, đổi công việc khác nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Trong khi đó, phía ông T cũng thường xuyên lạc với người phụ nữ khác với lời lẽ thân mật, bà H biết được là do khi con của bà H lấy điện thoại của ông T chơi nhưng không biết sử dụng và kêu bà H tắt giùm thì vô tình bà H thấy được tin nhắn của ông T với người phụ nữ khác. Trong thời gian gần đây, khi ông T đi uống rượu về thì có hành vi đánh bà H, có lời lẽ xúc phạm bà H. Hiện nay vợ chồng còn sống chung nhà, sau khi ly hôn bà H sẽ về bên quê của bà H ở huyện C để sinh sống. Bà H nhận thấy vợ chồng không thể khắc phục được mâu thuẫn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Thiên P, sinh ngày 01/12/2017 và Ngô Thiên T1, sinh ngày 31/7/2020. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1, giao cho ông T nuôi dưỡng cháu P. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, trong trường hợp ông T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì bà H đồng ý.

Trong thời gian vợ chồng chung sống, vợ chồng đi làm thì nhờ ông bà nội chăm sóc, giữ cháu giùm. Khi con tới tuổi đi học thì ông T hoặc bà H đưa con đi học, chiều nhờ ông nội rước về giùm. Bà H không có khả năng nuôi cả 02 cháu nên bà H có nguyện vọng mong muốn nuôi cháu T1, để có điều kiện nuôi dưỡng con tốt nhất trong khả năng của bà H. Các con là do bà H sinh ra nên bà H cũng rất thương các con, không muốn bỏ con lại nên yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1. Sau khi ly hôn, bà H sẽ về xã L, huyện C sinh sống chung với gia đình người em ruột của bà H. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà H giao cháu T1 cho bà H nuôi dưỡng thì trong thời gian bà H đi làm sẽ gửi cháu T1 ở nhà trẻ, chiều bà H rước về. Hiện nay, cháu T1 cũng đã được gửi nhà trẻ, bà H đang làm việc ở Khu công nghiệp T, huyện C, thời gian làm việc của bà H là từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút, tuần đi làm 06 ngày từ thứ 2 đến thứ 7, không có tăng ca. Thu nhập của bà H là 12.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Ngô Quang T trình bày:

Ông T thống nhất với lời trình bày của bà H về thời gian chung sống, về quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn, về con chung, tài sản chung, nợ chung.

Về nguyên nhân mâu thuẫn, theo ông T nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bà H không làm tròn trách nhiệm của người vợ người mẹ. Khi bà H còn làm việc ở Công ty cũ thì bà H thường xuyên đi với bạn bè, thường xuyên uống rượu, về nhà không chăm sóc các con mà xem điện thoại. Còn việc bà H cho rằng ông T liên lạc với người phụ nữ khác và có hành vi đánh bà H là không đúng. Bà H không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh ông T có liên lạc với người phụ nữ khác cũng như đánh bà H. Nay, bà H yêu cầu ly hôn với ông T thì ông T đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Thiên P, sinh ngày 01/12/2017 và Ngô Thiên T1, sinh ngày 31/7/2020. Ông T yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung, không đồng ý giao cháu T1 cho bà H nuôi dưỡng. Vì trước giờ bà H không có trực tiếp chăm sóc các con, các con được bà H chăm sóc từ lúc mới sinh cho đến khi 06 tháng tuổi, sau đó các con được gửi cho ông bà nội chăm sóc giùm. Hết giờ làm việc, bà H về nhà cũng không chăm lo cho các con. Các con đã quen với môi trường sống hiện tại và việc giao mỗi người nuôi một người con làm ảnh hưởng đến các con. Các con đều mến cha hơn mến mẹ. Hiện tại ông T đang làm việc ở Khu công nghiệp C, huyện C thu nhập của ông T là 18.000.000 đồng/tháng bao gồm lương, các khoản phụ cấp, tăng ca. Buổi sáng khi ông T đi làm, ông T đưa con đi học, buổi chiều ông T nhờ cha ruột của ông T hoặc anh ruột của ông T rước con về giùm. Thời gian làm việc của ông T 06 ngày/tuần, thời gian làm việc trong ngày từ 07 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút, khi có tăng ca thì tối đa là tới 19 giờ. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận giao 02 con chung cho ông T nuôi dưỡng, ông T yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng/01 người con.

Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông T xác định không có.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 35, 39, 68, 97, 98, 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  • Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà H và ông T.
  • Về nuôi con chung: Giao cho ông T nuôi dưỡng cháu Ngô Thiên P, sinh ngày 01/12/2017; Giao cho bà H nuôi dưỡng cháu Ngô Thiên T1, sinh ngày 31/7/2020. Bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu P là 3.000.000 đồng/tháng. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
  • Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét;
  • Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Bích H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Ngô Quang T có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Đước thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích H và ông Ngô Quang T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 115/2016 ngày 01/11/2016 nên xác định hôn nhân của vợ chồng bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà H nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T không tin tưởng bà H, nghi ngờ bà H có quan hệ tình cảm với người khác, trong khi đó, ông T lại thường xuyên liên lạc với người phụ nữ khác với lời lẽ thân mật, khi ông T uống rượu say về còn kiếm chuyện đánh bà H. Về phía ông T, theo ông T nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bà H không làm tròn trách nhiệm của người vợ người mẹ. Khi bà H còn làm việc ở Công ty cũ thì bà H thường xuyên đi với bạn bè, thường xuyên uống rượu, về nhà không chăm sóc các con mà xem điện thoại. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H và ông T thống nhất thuận tình ly hôn nên căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà H và ông T.

[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Thiên P, sinh ngày 01/12/2017 và Ngô Thiên T1, sinh ngày 31/7/2020. Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1, giao cho ông T nuôi dưỡng cháu P. Trong khi đó, ông T lại yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, cả bà H và ông T đều có thu nhập để nuôi con và hoàn cảnh gia đình của cả hai đều có điều kiện để chăm sóc con chung, điều kiện chăm sóc các con là tương đồng với nhau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cháu T1 giới tính là nữ, lại còn nhỏ nên cần được sự chăm sóc từ người mẹ, nên giao cháu T1 cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp hơn. Đối với cháu P, cả bà H và ông T đều thống nhất giao cháu P cho ông T nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con, ông T yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng/01 người con, bà H đồng ý cấp dưỡng cho cháu P theo mức cấp dưỡng do ông T đề xuất nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Về phía bà H, bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử xét không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà H và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có nên không xem xét.

[6] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Đước tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Bà H, ông T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích H về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Ngô Quang T.

  1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Bích H với ông Ngô Quang T.
  2. Về nuôi con chung:
  3. Giao cho ông Ngô Quang T nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thiên P, sinh ngày 01/12/2017; giao cho bà Nguyễn Thị Bích H nuôi dưỡng con chung tên Ngô Thiên T1, sinh ngày 30/7/2020.

    Bà Nguyễn Thị Bích H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng, thời gian thực hiện cấp dưỡng được tính kể từ ngày 16/9/2024 cho đến khi cháu Ngô Thiên P đủ 18 tuổi. Ông Ngô Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

    Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bích H, ông Ngô Quang T mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí thuận tình ly hôn. Bà Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Bích H đã nộp theo biên lai thu số 0012097 ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cần Đước sang án phí. Bà Nguyễn Thị Bích H còn phải nộp án phí là 75.000 đồng.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Cần Đước;
  • - THADS huyện Cần Đước;
  • - UBND xã Long Trạch;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án văn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Võ Thu Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, con chung

  • Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bích H yêu cầu Ngô Quang T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger