Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 143/2023/HSST

Ngày 15/11/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mầu Thị Hải Vân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khánh, bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Mê Linh - Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà: bà Đào Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 145/2023/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: LƯƠNG VĂN ĐIỂN, sinh năm 1985; HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu dân cư A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; số CMND, CCCD/Hộ chiếu: [...]; Dân tộc: kinh; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Lương Văn T, sinh năm 1958; và bà: Vũ Thị M, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1984; con: có 02con; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 27/6/2006, Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 49/2006/HSST (đã được xóa án tích); Ngày 12/8/2008, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tại bản án số 26/2008/HSST (đã được xóa án tích); Ngày 18/12/2012, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 39 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 77/2012/HSST (đã được xóa án tích); Ngày 05/7/2016, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, tại bản án số 37/2016/HSST (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 19/8/2023 hiện đang bị tạm giam tại trại giam S-Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

D chỉ bản: số 363 ngày 19/8/2023 do Công an huyện M lập.

Người bị hại: Nguyễn Bảo N, sinh năm 2003

Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Phạm Văn H, sinh năm 1998

Địa chỉ: thôn K, xã M, huyện A, thành phố H.

Người được anh N và anh H ủy quyền: bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: đường B, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: đường T, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện M tiếp nhận tố giác của anh Phạm Văn H (sinh năm 1998; trú tại thôn K, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng) và anh Nguyễn Bảo N (sinh năm 2003; trú tại thôn T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên). Nội dung: Anh H và anh N trình báo về việc bị trộm cắp điện thoại tại phòng 106, K1 tiếng Nhật “Bảo Việt” thuộc Trường Cao đẳng Đ1 (Địa chỉ: thôn B, xã K, huyện M, Hà Nội). Căn cứ vào đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm rõ đối tượng Lương Văn Đ (sinh năm 1985; trú tại khu dân cư A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương) có hành vi trộm cắp tài sản của anh H và anh N. Cụ thể như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/02/2023, Lương Văn Đ đến nhập học tại Trung tâm đào tạo tiếng Nhật “B” thuộc Trường Cao đẳng Đ1. Sau khi gửi hồ sơ, do không đủ tiền nộp học phí nên Đ chưa làm thủ tục nhập học. Điển xin ban quản lý cho ngồi nghỉ tạm tại khuôn viên ký túc xá sau đó sẽ ra ngoài đi thuê trọ, khi nào có đủ tiền sẽ quay lại hoàn thiện thủ tục nhập học. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/02/2023, Đ phát hiện trong phòng 106 (nơi anh Nguyễn Bảo N và anh Phạm Văn H đang ngủ) có 02 chiếc điện thoại đang cắm sạc ở đầu giường để trên mặt bàn gần cửa ra vào nên nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên. Quan sát xung quanh khuôn viên ký túc xá không có người, trong phòng 106 mọi người đều đang ngủ nên Đ đi đến cửa phòng lấy chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng và dây sạc của anh N. Điển tiếp tục lấy chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, vỏ màu vàng và dây sạc của anh H, rồi đi bộ ra khuôn viên ký túc xá tắt nguồn của 02 chiếc điện thoại này. Sau đó Đ đi bộ ra cổng trường hướng thị trấn C, huyện M. Khi đi đến gần Uỷ ban nhân dân thị trấn C, Đ nhờ xe của người đi đường đến đầu đường Q tiếp giáp với đường cao tốc Võ Văn K thì xuống xe. Tại đây, Đ bắt xe khách đến bến xe M để đi về Hải Dương. Trong thời gian đợi xe khách, Đ tháo sim và vứt sim của 02 chiếc điện thoại ở ven đường. Khi về đến thị xã K, tỉnh Hải Dương, Đ bật nguồn 02 chiếc điện thoại và nhập các mật khẩu khác nhau để thử mở màn hình của máy. Sau khi nhập mật khẩu nhiều lần Điển mở khoá được chiếc điện thoại iphone 13promax còn chiếc điện thoai iphone 11 promax không mở. Điển mang 02 chiếc điện thoại trên đến cửa hàng điện thoại “Trọng Mobile” của anh Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1987) ở đường T, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương để bán. Do chiếc điện thoại iphone 11 promax không mở được khóa màn hình nên chỉ bán được với giá 2.000.000 đồng, còn chiếc điện thoại iphone 13promax mở được khóa màn hình nên bán được với giá 18.000.000 đồng. Tại đây, Đ nhận 2.000.0000 đồng tiền mặt còn 18.000.000 đồng yêu cầu chuyển đến số tài khoản 1019887579 tại ngân hàng V của Đ. Sau khi nhận được tiền, Đ đi về nhà ở khu dân cư A, Phường A, Thị xã K, tỉnh Hải Dương và đã tiêu xài hết số tiền trên. Đến ngày 18/8/2023, Lương Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: Quá trình bắt giữ đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm:

  • Tạm giữ của Nguyễn Văn T1: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng gold, I: 353891104149062, Imei 2: 35389114156422; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, vỏ màu vàng gold 128GB, Imei: 353324652282770, Imei 2: 353324652156651; 01 (Một) chiếc USB có chứa hình ảnh của Lương Văn Đ khi đến bán 02 chiếc điện thoại.

Tại Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 21/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận:

  • 01 điện thoại Iphone 13 Promax, vỏ màu vàng có trị giá 18.000.000 đồng.
  • 01 điện thoại Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng có trị giá 8.500.000 đồng.

Tổng tài sản bị xâm hại có trị giá 26.500.000 đồng.

Đối với 02 điện thoại Iphone 11 Promax và Iphone 13 Promax: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh H và anh N, trước khi sang Nhật Bản lao động hai anh đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Thu H1 (sinh năm 1989; trú tại đường B, xã M, huyện S, Hà Nội) để giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ án. Vì vậy, ngày 05/07/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trao trả số tài sản trên cho chị Nguyễn Thị Thu H1 quản lý.

Đối với anh Nguyễn Văn T1, quá trình điều tra xác định: Khi anh T1 mua 02 điện thoại do Đ đem bán, không biết là tài sản do phạm tội mà có, anh T1 cũng không được bàn bạc từ trước, vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu H1, là người đại diện của anh Nguyễn Bảo N và anh Phạm Văn H, sau khi nhận được tài sản, không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Anh Nguyễn Văn T1, chủ của hàng điện thoại “Trọng Mobile” là người mua hai chiếc điện thoại trên yêu cầu Lương Văn Đ phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Ngày 11/10/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M đã ban hành bản kết luận điều tra số 139/KLĐT đề nghị VKSND huyện Mê Linh truy tố bị cáo Lương Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 25/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo Lương Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Lương Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).

Về vật chứng: không

Ngoài ra bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lương Văn Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn Đ khai nhận có hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với ý kiến phát biểu, lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nội dung vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/02/2023, tại Trung tâm đào tạo tiếng Nhật “Bảo Việt” (địa chỉ tại thôn B, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội) Lương Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone 11 Promax trị giá 8.500.000 đồng của anh Nguyễn Bảo N và 01 điện thoại Iphone 13 promax trị giá 18.000.000 đồng của anh Phạm Văn H. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 26.500.000 đồng. Đến ngày 18/8/2023, Lương Văn Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bắt giữ.

[3]. Hành vi “Trộm cắp tài sản” của Lương Văn Đ xét thấy là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Bởi vậy cần thiết phải đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục nói riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung trong xã hội.

[4]. Về nhân thân và tiền án, tiền sự của bị cáo: Bị cáo Lương Văn Đ có nhân thân rất xấu bị cáo đã có 4 tiền án: Ngày 27/6/2006, Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); Ngày 12/8/2008, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 27 tháng tù giam về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (đã được xóa án tích); Ngày 18/12/2012, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 39 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); Ngày 05/7/2016, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích). Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân để trở thành công dân tốt mà tiếp tục phạm tội.

[5]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: không

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy cần bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thu H1 là đại diện ủy quyền của anh Nguyễn bảo N1 và anh Phạm Văn H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Đối với anh Nguyễn Văn T1 chủ cửa hàng điện thoại Trong Mobile là người mua 02 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax và Iphone 11 Promax giá 20.000.000đ của bị cáo Lương Văn Đ. Anh T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền trên. Xét yêu cầu của anh T1 là phù hợp quy định pháp luật nên buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh T1 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

[7]. Về vật chứng vụ án: không

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự sung quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản"

    Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

  2. Xử phạt: Bị cáo Lương Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự 2015.

    Buộc bị cáo Lương Văn Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

  4. Về vật chứng: không
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.

    Buộc bị cáo Lương Văn Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền án phí dân sự trong hình sự sung công quỹ Nhà nước.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; UBND xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng, UBND phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Mê Linh
  • - CA huyện Mê Linh, Trại Tạm giam CATPHN
  • - Chi cục THADS huyện Mê Linh
  • - Phòng GĐKT
  • - UBND xã, bị cáo, đương sự
  • - Lưu HS, VP

T/M Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Mầu Thị Hải Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2023/HSST ngày 15/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 143/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC Đ phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger