|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2023/HNGĐ-ST
Ngày 15-11-2023
V/v “Tranh chấp về nuôi con, không công nhận vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Thanh Vũ
- Bà Lê Thị Xuân Hiền
Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 221/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về nuôi con, không công nhận vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 352/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1984. Có mặt.
Địa chỉ: Số D ấp A, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Phan Thanh T (T1), sinh năm 1978. Có mặt.
Địa chỉ: Số I ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 08/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị L trình bày.
Vào năm 2003, bà và ông Phan Thanh T quen biết, tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống ông, bà có 02 con chung tên Phan Như Ý, sinh ngày 30/01/2004 và Phan Minh T2, sinh ngày 21/4/2014. Ông, bà không có tài sản chung, cũng không nợ ai.
Thời gian đầu ông, bà chung sống hạnh phúc cho đến khoảng năm 2021 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi do không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc nên bà bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống từ khoảng tháng 6/2022 và sống ly thân với ông T cho đến nay, nhận thấy không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông T. Về con chung: Cháu Ý đã trưởng thành, bà yêu cầu giành quyền nuôi cháu T2, không yêu cầu cấp dưỡng.Về tài sản chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
Tại tờ tự khai ngày 27/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Thanh T (T1) trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà L về thời gian ông, bà chung sống với nhau như vợ chồng, thời gian ly thân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Về hôn nhân ông đồng ý ly hôn với bà L. Về con chung: Cháu Ý đã trưởng thành, ông đồng ý giao cháu T2 cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành, xin không cấp dưỡng. Về tài sản chung: Ông xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
Tại phiên tòa:
Bà L, ông T đều thống nhất yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận ông, bà là vợ chồng. Về con chung: Cháu Ý đã trưởng thành, ông đồng ý giao cháu T2 cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành, xin không cấp dưỡng. Về tài sản chung: Ông, bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Xét đơn khởi kiện của bà Võ Thị L về việc yêu cầu ly hôn với ông Phan Thanh T (Toản) thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình quy định tại Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân gia đình; Ông T (T1) là bị đơn có nơi cư trú tại số I ấp T, xã T, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về nội dung vụ án:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà L xin ly hôn. Xét thấy, bà L, ông T chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận ông, bà là vợ chồng.
- [2.2] Về nuôi con chung: Ông, bà có 02 con chung tên Phan Như Ý, sinh ngày 30/01/2004 và Phan Minh T2, sinh ngày 21/4/2014. Cháu Ý đã trưởng thành, ông T đồng ý giao cháu T2 cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành, ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu T2.
- [2.3] Về chia tài sản: Ông, bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- [2.4] Về nghĩa vụ trả nợ: Không có.
- [2.5] Về án phí: Bà L phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Võ Thị L và ông Phan Thanh T (T1) là vợ chồng.
- Về nuôi con chung: Cháu Phan Như Ý, sinh ngày 30/01/2004 đã trưởng thành. Giao cháu Phan Minh T2, sinh ngày 21/4/2014 cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông T không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì bà L có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom của ông T.
Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
- Về chia tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nghĩa vụ trả nợ: Không có.
- Về án phí: Bà Võ Thị L phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng bà L đã nộp theo biên lai thu số 0004654 ngày 11/10/2023 thành tiền án phí.
Các đương sự có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, được sửa đổi bổ sung tại Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thương |
Bản án số 143/2023/HNGĐ-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về nuôi con, không công nhận vợ chồng
- Số bản án: 143/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nuôi con, không công nhận vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
