TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:143/2024/HSST Ngày: 15/8/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh
Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hạnh Tịnh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 ; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị C, sinh ngày: 19/11/1975 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú và chỗ ở: xóm I, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu C1 (Đã chết); và bà Phạm Nguyễn Thị Q (Đã chết); có chồng: Nguyễn Đình H, sinh năm 1972 và có 02 người con, con thứ nhất sinh năm 1996, con thứ hai sinh năm 1997; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hiền A, sinh năm: 1963 – Luật sư Văn phòng L – Đoàn Luật sư thành phố H.
Địa chỉ: 6 đường C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm: 1971; địa chỉ: xóm Q, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
- Anh Nguyễn Cảnh Q1, sinh năm: 1975; địa chỉ: xóm L, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Đình H, sinh năm: 1972
Địa chỉ: xóm I, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
· Người chứng kiến:
- Anh Thái Văn Y, sinh năm: 1976; địa chỉ: xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Như T, sinh năm: 1971; địa chỉ: xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, tại tỉnh lộ 538D thuộc địa phận xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An bắt quả tang Nguyễn Thị C (Sinh năm 1975, trú tại xóm I, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; thu giữ tại vị trí bên trong phía trước áo ngực Nguyễn Thị C đang mặc 01 (một) gói nilông màu đen bên ngoài quấn dây chun màu đỏ, bên trong có 01 (một) gói nilông màu hồng và 02 (hai) gói nilông màu xanh kích thước tương tự nhau, cụ thể gồm: bên trong gói nilông màu hồng có chứa 198 (một trăm chín mươi tám) viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy) và 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh (nghi là ma túy); bên trong gói nilông màu xanh thứ nhất có chứa 190 (một trăm chín mươi) viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy) và 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh (nghi là ma túy); bên trong gói nilông màu xanh thứ hai có chứa 200 (hai trăm) viên nén hình tròn màu hồng (nghi là ma túy) và 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh (nghi là ma túy); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ITEL màu xanh, bên trong gắn sim số 0392.298.333, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen xanh, biển số 37E1-335.53, đã qua sử dụng. Nguyễn Thị C khai nhận toàn bộ số viên nén hình tròn màu hồng và màu xanh bị thu giữ đều là ma túy (H2 phiến) do C mua của người đàn ông tên Q1 (trú tại xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An) với giá 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng) vào ngày 23/12/2023, mục đích bán lại để kiếm lời với giá 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng) kiếm lời. Tổ Công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng liên quan (Bút lục số 72-75 HSVA).
Quá trình điều tra Nguyễn Thị C khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 40 phút ngày 23/12/2023, Nguyễn Hữu H1 (Sinh năm 1971, trú tại xóm Q, xã G, huyện Đ, tỉnh Nghệ An) sử dụng số điện thoại 0968.634.xxx gọi đến số điện thoại 0384.857.xxx của Nguyễn Thị C và nói “nhờ ả đi lấy cho chú ba bịch hàng rồi chú gửi tiền cho” (ý H1 hỏi mua của C 03 gói ma túy Hồng phiến; do Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Thị C là anh em bà con trong họ với nhau nên Nguyễn Thị C nói “ừ, để chị gọi cho chú Q1”, Nguyễn Hữu H1 nói “lấy đi, cầm lên đây rồi chú trả cho hai mươi mốt triệu”, Nguyễn Thị C nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại kiếm tiền lời tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thị C đồng ý.
Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Thị C sử dụng số điện thoại 0384.857.xxx gọi đến số điện thoại 0976.099.xxx của Nguyễn Cảnh Q1 (Sinh năm 1975, trú tại xóm L, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An) và nói “có không để cho chị ba gói hàng” (ý C hỏi mua của Quyền 03 gói ma túy Hồng phiến), Nguyễn Cảnh Q1 nói “ừ”. Sau đó Nguyễn Thị C gọi lại cho Nguyễn Hữu H1 nói “có hàng đây rồi, tí chị lên chị đưa cho”, Nguyễn Hữu H1 nói “ừ” rồi tắt máy. Đến khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày, Nguyễn Cảnh Q1 gọi cho Nguyễn Thị C nói “chị có ở nhà không em đưa hàng xuống”, Nguyễn Thị C nói “có”. Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Cảnh Q1 điều khiển xe mô tô đi đến nhà Nguyễn Thị C tại xóm I, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Khi đến nhà Chung, Nguyễn Cảnh Q1 đi vào trong phòng khách nhà ở và đưa cho Nguyễn Thị C 01 (một) gói nilông màu đen, bên ngoài quấn dây chun màu đỏ, bên trong chứa 03 (ba) gói nilông gồm 02 (hai) nilông màu xanh và 01 (một) gói nilông màu hồng, bên trong mỗi gói này đều chứa các viên ma túy H2 phiến và nói với Nguyễn Thị C “hết mười bốn triệu chị nhá”, Nguyễn Thị C cầm gói ma túy và nói với Nguyễn Cảnh Q1 “chị còn có bốn triệu đây, chú cầm trước đi, chị đưa hàng cho người ta tí về chị lấy tiền rồi chị trả”, Q1 đồng ý và nói cho C biết trong ba gói ma túy thì có một gói thiếu 10 (mười) viên.
Đến khoảng 13 giờ 00 cùng ngày, Nguyễn Thị C cầm gói nilông màu đen, bên ngoài quấn dây chun màu đỏ, bên trong chứa 03 (ba) gói ma túy H2 phiến mua của Nguyễn Cảnh Q1 giấu vào bên trong, phía trước chiếc áo ngực Nguyễn Thị C đang mặc trên người, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu đen xanh, biển số 37E1- 335.53 đi giao cho H1. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi C đang đi trên tỉnh lộ 538D thuộc địa phận xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì bị thì Tổ Công tác Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng như đã nêu.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị C tại xóm I, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, màu đen, bên trong gắn sim số 0384.857.829, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 77/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- “- Các mẫu vật (ký hiệu từ M1 đến M6) thu giữ của Nguyễn Thị C gửi tới giám định đều là ma túy; loại Methamphetamine.
- - Số viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Nguyễn Thị C có tổng khối lượng là 53,93g (năm mươi ba phẩy chín mươi ba gam).
- - Số viên nén hình tròn màu xanh thu giữ của Nguyễn Thị C có tổng khối lượng là 0,645g (không phẩy sáu trăm bốn mươi lăm gam)”.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, khoản 3, Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C từ 15 ( mười lăm ) - 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành và 03 (ba) que Test chất ma túy bằng nước tiểu, đã sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh, số EMEI: 356524290325389, 356524290325397, đã qua sử dụng của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. Trả cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, vỏ màu đen, số IMEI: 355546100949489, 355547100949487 là công cụ, phương tiện phạm tội;
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị C trình bày: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên nhất trí như tội danh Viện kiểm sát truy tố. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có bố (ông Nguyễn Hữu C1) tham gia dân công hỏa tuyến; ông nội (ông Nguyễn Hữu V) và bà nội (bà Nguyễn Thị X) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Bản thân bị cáo được tặng giấy khen trong công tác thiện nguyện, có chồng bị tai nạn giao thông liệt tủy sống (không đi lại được) nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo 7- 8 năm tù.
Căn cứ tài liệu có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo C thấy rằng bị cáo Chung có hành vi giúp sức cho Nguyễn Cảnh Q1 và Nguyễn Hữu H1 nhưng Cơ quan điều tra không làm rõ để truy tố là bỏ lọt người phạm tội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 280 Bộ luật Tố tụng nhình sự trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Bị cáo Nguyễn Thị C đồng ý với quan điểm bào chữa của người bào chữa, không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên.
Quá trình đối đáp luật sư và Kiểm sát viên đều giữ nguyên ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thị C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết dịnh tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Quá trình giải quyết vụ án,bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị C thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ kết luận: Vào trưa ngày 23/12/2023, tại xóm I, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thị C đã mua 54,575 gam ma túy (M) với giá 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng) của một người tên Q1. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, khi Nguyễn Thị C điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 37E1 - 335.53 mang ma túy đi bán cho một người tên H1 với giá 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng), khi đến tỉnh lộ 538D thuộc địa phận xóm K, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ Công tác Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang. Nguyễn Thị C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 54,575 gam ma túy (Methamphetamine). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đối với bị cáo:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thị C tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố (ông Nguyễn Hữu C1) tham gia dân công hỏa tuyến; ông nội (ông Nguyễn Hữu V) và bà nội (bà Nguyễn Thị X) được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, bản thân bị cáo được tặng giấy khen trong công tác thiện nguyện nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất vụ án.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị C thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước Việt Nam đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi nên vẫn thực hiện. Do đó, cần phải lên một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và để phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị tai nạn liệt tủy sống không đi lại được do đó, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên cần lên mức án như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khan nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ gồm:54,575 gam ma túy (Methamphetamine) thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Thị C, Cơ quan điều tra, đã lấy 1,720 gam đi giám định, còn lại 52,855 gam; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, vỏ màu đen, số IMEI: 355546100949489, 355547100949487; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh, số EMEI: 356524290325389, 356524290325397, đã qua sử dụng. Xét thấy, đối khối lượng ma túy bị thu giữ là loại Nhà nước cấm lưu hành do đó cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, vỏ màu đen, số IMEI: 355546100949489, 355547100949487 đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo. Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh, số EMEI: 356524290325389, 356524290325397, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội tịch thu sung ngân sách nhà nước . Đối 03 (ba) que Test chất ma túy bằng nước tiểu, đã sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Đối với đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị xét xử bị cáo 7 -8 năm tù: Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo chỉ có 01 tình tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, không có căn cứ để xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt liền kề.
Đối với đề nghị trả hồ sơ bổ sung: Hội đồng xét xử thấy rằng, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị C khai mua ma túy của Nguyễn Cảnh Q1 và bán cho Nguyễn Hữu H1. Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Cảnh Q1 để đấu tranh, làm rõ nhưng H1 và Q1 không thừa nhận việc mua bán ma túy với Nguyễn Thị C. Ngoài lời khai của Nguyễn Thị C, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của Nguyễn Hữu H1 và Nguyễn Cảnh Q1.Tại phiên tòa Nguyễn Thị C không xuất trình them tài liệu chứng cứ mới nên không có căn cứ để trả hồ sơ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm b, khoản 3, Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 15 ( mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Thị C.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 52,855 gam ma túy (Heroine).
- - Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10, vỏ màu đen, số IMEI: 355546100949489, 355547100949487; Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh, số EMEI: 356524290325389, 356524290325397, đều đã qua sử dụng.
- - Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) que Test chất ma túy bằng nước tiểu, đã sử dụng.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lô Q có quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.
Đặc điểm, tình trạng các vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Minh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hải M |
Bản án số 143/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 143/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
