|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HSST
Ngày: 15/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Đô
- Bà Lê Thị Kiều Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim A – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST-HS ngày 02/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị N; Tên gọi khác: N1; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1993, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1973; Có chồng tên Mai Quyết Nhựt Q, sinh năm 1992; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: - Ngày 24/02/2021, TAND huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 20/2021/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2022; - Ngày 27/12/2022, TAND TP. Phan Thiết xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 243/2022/HSST; Bị cáo đang chấp hành án phạt tù của Bản án số 243/2022/HSST ngày 27/10/2022 tại Trại giam T1 – Bộ C1, hiện được trích xuất, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P để tham gia phiên tòa xét xử. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Văn C – sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố F, phường P, Tp ., tỉnh Bình Thuận. - Nguyễn Ngọc B – sinh năm 1991
Địa chỉ: Khu phố B, phường T, P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 19/11/2022 đến ngày 30/6/2023, Nguyễn Thị N đã 02 lần thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/11/2022, N đến khu vực đường hẻm bên hông chùa P thuộc khu phố A, phường L, thành phố P tìm gặp người đàn ông tên “Lam” (không rõ nhân thân) hỏi mua “25 số” ma túy đá với giá 1.350.000 đồng thì người này đồng ý bán. Sau đó, L1 đi vào trong hẻm để lấy ma túy, còn N đứng đợi bên ngoài. Một lúc sau, L1 đi ra và đưa cho N 01 gói nylon không màu, bên trong có chứa 10 tép ma túy đá. Nở nhận ma túy và đưa cho L1 số tiền 1.350.000 đồng. Nở mang số ma túy này về nhà N tại khu phố F, phường P, thành phố P cất giấu.
Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Văn C là người chung sống như vợ chồng với N đi làm về. N bảo C chở N đi ăn tối. Khi đi, N lấy gói ma túy mới mua của L1 cất giấu trong túi quần phía trước bên phải của N. Sau đó, C điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha biển số 86C1-177.70 chở N đi ăn tối. Khi đi đến đoạn ngã 3 đường L - C thuộc khu phố G, phường P, thành phố P thì Tổ tuần tra Công an phường P yêu cầu N và C dừng xe để kiểm tra. Lúc này, do lo sợ bị phát hiện việc có cất giấu trái phép chất ma túy trong người nên N bảo C chạy đi thì C quay đầu xe bỏ chạy. Khi đến đoạn ngã 3 đường C - H, N lấy gói ma túy cất trong túi quần mình ra ném xuống đất thì bị Tổ tuần tra phát hiện, thu giữ tang vật.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ dưới lòng đường Châu Văn L2 thuộc khu phố G, phường P, thành phố P 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (08×05) cm, bên trong gói nylon có chứa 10 đoạn ống hút bằng nhựa, không màu, hàn kín hai đầu, kích thước các đoạn như sau:
- 05 đoạn ống hút có kích thước mỗi đoạn khoảng (3,5×01) cm;
- 02 đoạn ống hút có kích thước mỗi đoạn khoảng (03×01) cm;
- 01 đoạn ống hút có kích thước đoạn ống hút khoảng (3,5×0,9) cm;
- 02 đoạn ống hút có kích thước mỗi đoạn khoảng (03×0,9) cm;
Bên trong tất cả các đoạn ống hút trên đều có chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M).
Nguyễn Thị N khai 10 đoạn ống hút nhựa trên có chứa ma túy đá do Nở ném xuống đường khi phát hiện lực lượng Công an.
- Thu giữ của Nguyễn Văn C: 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Mio màu xanh đen, biển số 86C1-177.70.
Tại Kết luận giám định số 438/KLGĐ-PC09 ngày 29/4/2022 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,3577 gam; là Methamphetamine.
H lại đối tượng giám định: 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo và 10 đoạn ống nhựa không màu đã cắt lấy mẫu cùng 1,3304 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 662, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong số 662, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết chờ xử lý tiếp theo.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Mio biển số 86C1-177.70, do bà Nguyễn Thị Kim K đứng tên chủ sở hữu. Vào năm 2022, bà K đã bán chiếc xe này cho Nguyễn Văn C. Ngày 19/11/2022, C điều khiển xe mô tô 86C1-177.70 chở N thì bị Công an kiểm tra. Khi N bảo C chạy đi thì C chỉ làm theo lời N mà không biết N tàng trữ trái phép chất ma túy trong người. Xét thấy tài sản không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho C.
Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/6/2023, N tiếp tục đến khu vực đường hẻm bên hông chùa P thuộc khu phố A, phường L, thành phố P mua 01 gói ma túy đá của “Lam” với giá 2.800.000 đồng. Mua được ma túy, N mang về nhà tại khu phố F, phường P, thành phố P. Tại phòng ngủ của N, N dùng cân tiểu ly phân chia số ma túy mới mua của L1 thành các gói nhỏ có nhiều kích thước khác nhau để sử dụng dần rồi cất số ma túy này cùng cân tiểu ly trên giường trong phòng ngủ của N. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, Nguyễn Ngọc B đến nhà N ngồi chơi. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày thì Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố P phối hợp với Công an phường P kiểm tra hành chính nhà N thì phát hiện, thu giữ số ma túy và cân tiểu ly nói trên của N.
Quá trình điều tra, N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình vào ngày 19/11/2022 và ngày 30/6/2023 nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ trên giường trong phòng ngủ của Nguyễn Thị N gồm:
- 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (04×07) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1).
- 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (05×08) cm, bên trong có: 07 gói nylon nhỏ, hàn kín hai đầu, kích thước mỗi gói khoảng (1,5×03) cm, bên trong các gói nylon đều chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M2).
- 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (3,5×04) cm, bên trong có: 07 gói nylon nhỏ, hàn kín hai đầu, kích thước mỗi gói khoảng (01×03) cm, bên trong các gói nylon đều chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M3).
- 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (04×05) cm, bên trong có: 05 gói nylon nhỏ, hàn kín hai đầu, kích thước mỗi gói khoảng (01×03) cm, bên trong các gói nylon đều chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M4).
- 01 gói nylon không màu, có khóa nhựa kéo một đầu, kích thước khoảng (04×05) cm, bên trong có: 01 gói nylon không màu hàn kín, kích thước khoảng (1,5×03) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M5).
- 01 cân tiểu ly.
Nguyễn Thị N khai 05 gói ma túy đá và cân tiểu ly trên là của N.
Tại Kết luận giám định số 802/KL-KTHS ngày 12/7/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 4,1717 gam; là Methamphetamine.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,9663 gam; là Methamphetamine.
- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,3313 gam; là Methamphetamine.
- Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,3709 gam; là Methamphetamine.
- Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 0,2405 gam; là Methamphetamine.
H lại đối tượng giám định: Các mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phòng bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 802, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong số 802, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết chờ xử lý tiếp theo.
Tại bản cáo trạng số 104/CT-VKS ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Nguyễn Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b, g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Trong hai ngày 19/11/2022 và 30/6/2023, Nguyễn Thị N đã 02 lần tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Cụ thể:
Lần 1: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 19/11/2022, tại khu phố G, phường P, thành phố P, Nguyễn Thị N có hành vi tàng trữ trái phép 1,3577 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Tổ tuần tra Công an phường P phát hiện.
Lần 2: Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 30/6/2023, tại nhà của Nguyễn Thị N thuộc khu phố F, phường P, thành phố P, N có hành vi tàng trữ trái phép 6,0807 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P phối hợp với Công an phường P phát hiện.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, b, o Điều 249 của Bộ luật hình sự, bởi lẽ:
Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine 02 lần mà Nở tàng trữ trái phép là 7,4384 gam, là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Nở 02 lần tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine mà khối lượng ma túy ở mỗi lần đều đủ định lượng cấu thành tội phạm, đây là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Nở đã “tái phạm” (theo Bản án số 243/2022/HSST ngày 27/12/2022 của TAND TP. Phan Thiết), chưa được xóa án tích nên lần phạm tội ngày 30/6/2023 thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhận thức đầy đủ về hành vi của mình với xã hội. Bị cáo đã từng bị xử phạt tù về hành vi Tàng trữ trai phép chất ma túy. Hơn ai hết, bị cáo là người biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người và gây nhiều hệ lụy cho xã hội. Bị cáo nhận thức được M là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ....... trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn xem thường pháp luật, đã liên tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bất chấp hậu quả.
Hành vi của bị cáo thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Tại bản cáo trạng Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại phần luận tội Viện kiểm sát xin rút đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” đối với N vì cho rằng N thực hiện 02 lần hành vi phạm tội vào ngày 19/11/2022 và ngày 30/6/2023, N đã "tái phạm", chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp "tái phạm nguy hiểm". Hai lần phạm tội này N đã bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b, g, o Điều 249 Bộ luật Hình sự. Lần phạm tội ngày 19/11/2023, N đã bị truy tố với tình tiết "Phạm tội hai lần" là tình tiết định khung trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự ở lần phạm tội ngày 19/11/2023 nữa. Đề nghị này của kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành thành khẩn khai báo. Khi phạm tội bị cáo đang mang thai nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thêm một thời gian nhất định là cần thiết. Đồng thời áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt 02 năm tù tại bản án 243/2022/HSST ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân thàh phố Phan Thiết. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung cho cả hai bản án.
[5] Xử lý vật chứng: Đối với 01 cân tiểu lý và số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định theo quy định của pháp luật.
[7] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên “Lam” bán ma túy cho N, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn C, qua điều tra xác định C không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy trong người vào ngày 19/11/2022 nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý với vai trò đồng phạm với N là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b, g, o khoản 2 Điều 249, điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Nguyễn Thị N 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 243/2022/HSST ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án (07/8/2023), nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 31/8/2022 đến ngày 05/9/2022.
* Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, c khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy số mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong số 662, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 – Công an tỉnh B.
- Tịch thu tiêu hủy số mẫu vật còn lại sau giám định đựng trong phong bì được niêm phong số 802, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 – Công an tỉnh B.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 132 ngày 12/6/2024).
- Tịch thu tiêu hủy 1 cân tiểu ly (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 143 ngày 12/7/2024).
- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo. Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 143/2024/HSST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 143/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
