TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI ————————— | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 143/2024/HS - ST Ngày: 15/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Hoài |
| Các Hội thẩm nhân dân : | 1. Ông Nguyễn Hồng Đức |
| 2. Ông Hoàng Văn Long | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. |
| Đại diện VKSND huyện Thanh Trì - TP Hà Nội tham gia phiên tòa: | Ông Nguyễn Anh Nguyễn - Kiểm sát viên |
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST - HS ngày 29/5/2024, Thông báo thay đổi lịch phiên tòa ngày 11/6/2024 đối với bị cáo:
Đào Thị Hoài T, sinh năm 1990; HKTT: Số D B, phường L, thành phố H, Tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Đình N và bà Đào Thị N1; có chồng là Hà Đăng M và 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017) Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/02/2023, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (hành vi phạm tội ngày 25/11/2022) – đã chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 05/12/2023, Tòa án quân sự khu vực Thủ đô Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (hành vi phạm tội ngày 07 và 08/7/2023) – đã chấp hành xong hình phạt tù; D chỉ bản số 226 do Công an huyện T lập ngày 04/4/2024). Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09/7/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt).
- Người bị hại: Anh Phùng Minh N2, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện T, Hà Nội (vắng mặt).
- Người có QLNV liên quan: Anh Vương Văn H – Sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ A phường T, Quận H, Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 24/11/2022, Đào Thị Hoài T đi bộ đến Bệnh viện N3 ở xã T, huyện T, Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản. Khi T đi vào bãi trông giữ xe thì thấy xe mô tô Honda Wave BKS: 29H2-123.64 của anh Vương Văn H đang để trong bãi gửi xe, trên ổ khóa vẫn cắm chìa khóa điện. T đi đến chỗ để xe rồi bật mở khóa điện và thấy vẫn sử dụng được, T dùng chìa khóa tiếp tục mở cốp xe thì thấy 01 đăng ký xe mô tô mang tên Vương Toàn C để trong cốp. T nảy sinh ý định chiếm đoạt chếc xe nên đã nổ máy và điều khiển chiếc xe đi ra khu vực soát vé. T nói với anh Phùng Minh N2 là nhân viên bảo vệ của Bệnh viện được giao nhiệm vụ soát vé của người gửi xe ra vào bãi xe về việc T bị mất vé xe thì anh N2 yêu cầu cho kiểm tra giấy tờ cá nhân và giấy đăng ký xe. T đã lấy đăng ký xe mang tên Vương Toàn C và giấy tờ tùy thân đưa cho anh N2 kiểm tra. Sau khi thấy T xuất trình được giấy tờ liên quan đến chiếc xe nên anh N2 đã tin tưởng, yêu cầu T viết giấy cam kết về việc mất vé xe, nộp số tiền 100.000 đồng là tiền phí làm mất vé xe và cho T đưa xe ra khỏi bãi gửi xe của bệnh viện. Sau khi lấy được xe, T điều khiển xe đến gửi tại Bãi xe Bệnh viện Đ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, anh H mang theo vé xe đến lấy xe thì không thấy xe trong bãi gửi xe nên anh đã gặp tổ bảo vệ nói về việc không tìm thấy chiếc xe mô tô Honda Wave BKS:29H2-123.64 của anh đã gửi tại đây. Anh H không chứng minh được là chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên do đã để giấy tờ và chìa khóa trên xe.
Ngày 25/11/2022, T tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 07 tháng tù. Ngày 27/6/2023, T chấp hành xong án phạt tù và đi đến Bệnh viện Đ lấy chiếc xe mô tô Honda Wave BKS:29H2-123.64 để đi lại và tiếp tục đi thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản vào ngày 07/7/2023, ngày 08/7/2023 và bị Tòa án quân sự khu vực Thủ đô H xử phạt 12 tháng tù.
Ngày 08/7/2023, anh H được Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H thông báo đã bắt giữ được đối tượng trộm cắp và thu giữ được chiếc xe mô tô Honda Wave màu trắng BKS: 29H2-123.64 nên ngày 09/7/2023, anh H đến Công an huyện T trình báo.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã tiến hành tạm giữ 01 giấy ghi “Giấy cam đoan sau khi mất vé gửi xe” đề ngày 24/11/2022 liên quan đến vụ việc.
Tại Bản Kết luận giám định số 6162/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chữ viết, chữ ký đứng tên Đào Thị Hoài T trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với chữ viết, chữ ký tên Đào Thị Hoài T trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) là chữ do cùng một người viết và ký ra”.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 29H2-123.64, đã qua sử dụng có giá trị 13.103.600 đồng”.
Tại Cơ quan điều tra:
- Đào Thị Hoài T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
- Đối với chiếc xe Honda Wave, BKS 29H2-123.64 là tài sản của anh Vương Văn H nên CQĐT đã trao trả lại xe cho anh H. Anh H đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự.
- Đối với số tiền 100.000 đồng do anh Phùng Minh N2 giao nộp là tiền T đã tự nguyện nộp phạt cho T1 bảo vệ khi dùng thủ đoạn gian dối báo mất vé xe để chiếm đoạt chiếc xe mô tô 29H2-123.64 nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Anh Phùng Minh N2 không yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.
Bản cáo trạng số 111/CT - VKSTT ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Đào Thị Hoài Thương về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo Đào Thị Hoài T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo là đúng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử :
- Áp dụng khoản 1 điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Bị cáo từ 15 - 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
- Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên không xét.
- Lưu hồ sơ vụ án 01 giấy cam đoan sau khi mất vé gửi xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án - có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 24/11/2022, tại bãi trông giữ xe của Bệnh viện N3 ở xã T, huyện T, Hà Nội, Đào Thị Hoài T đã dùng thủ đoạn gian dối báo mất vé gửi xe với anh Phùng Minh N2 là bảo vệ được giao nhiệm vụ trông giữ xe tại đây, viết giấy cam kết sau khi mất vé xe để chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29H2-123.64 được gửi tại bãi xe thuộc sở hữu của anh Vương Văn H có trị giá 13.103.600 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân bị cáo: Bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 7 tháng tù; Tòa án quân sự khu vực thủ đô Hà Nội xử phạt 12 tháng tù cùng về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của cả hai bản án (hành vi phạm tội xảy ra sau hành vi phạm tội xét xử trong bản án này).
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về bồi thường dân sự và vấn đề khác trong vụ án:
- Anh Phùng Minh N2 không yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.
- Đối với chiếc xe Honda Wave, biển số 29H2-123.64 là tài sản của anh Vương Văn H nên CQĐT đã trao trả lại xe cho anh. Anh H đã nhận lại xe và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự nên HĐXX không xem xét.
- Đối với số tiền 100.000 đồng do anh Phùng Minh N2 giao nộp là tiền T đã tự nguyện nộp phạt cho T1 bảo vệ khi dùng thủ đoạn gian dối báo mất vé xe để chiếm đoạt chiếc xe mô tô 29H2-123.64 nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 giấy cam kết sau khi mất vé gửi xe là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị Hoài T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng: Khoản 1 điều 174; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thị Hoài T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2024.
- Về dân sự và vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Dân sự: Không xét.
- - Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 giấy cam kết sau khi mất vé gửi xe.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000đồng đang gửi tại tài khoản chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì (theo ủy nhiệm chi số 103 ngày 23/6/2024 của Công an huyện T.
- Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hoài |
Bản án số 143/2024/HS - ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 143/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Thị Hoài T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
