|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HS-ST
Ngày: 14 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Như Thuần.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hải Yến và bà Trần Thị Ngọc Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trinh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cảm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L; Sinh ngày: 18/8/1989 tại Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; Căn cước công dân số: [...]; Nơi thường trú: 20 N, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên HuếNghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H bà Ngô Thị K đình có 04 anh em ruột, bị cáo là con đầu; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/01/2024 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Ngọc T, sinh năm: 1952; Địa chỉ: B C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Võ Đại P, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 25 phút ngày 30/8/2023, Nguyễn Văn L1 khiển xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 75K1-095.49 tham gia giao thông theo hướng từ cầu Trường Tiền rẽ qua đường T về cầu G tới đoạn đường tại trước cột điện số 02 Trần Hưng Đạo, phường Đông Ba, thành phố Huế (trước cổng siêu thị C phát hiện thấy xe đạp do ông Trần Ngọc T1 khiển đi phía trước cùng chiều và đi chếch chéo từ trái sang phải đường nên L2 điều khiển xe mô tô vượt lên bên phải xe đạp của ông T2 đến va chạm. Hậu quả: Ông T3 thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện T10; hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
Ngày 19/12/2023, Phòng K1Công an tỉnh T Kết luận số 789/KL-KTHS xác định giữa xe mô tô 75K1-095.49 với xe đạp có va chạm với nhau. Vùng chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là tại má trái và phần mặt lăn tiếp giáp của lốc trước xe mô tô với mặt ngoài thanh kim loại nối giữa phần phía dưới chắn bùn trước với đầu trục trước bên phải, mặt ngoài càng trước bên phải, mặt sau và mặt ngoài ốc cố định đầu trục trước bên phải của xe đạp, phù hợp cơ chế va chạm theo chiều hướng từ trước ra sau xe mô tô và từ sau tới trước xe đạp.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 75K1-095.49;
- 01 xe đạp màu vàng đồng, có giỏ bằng sắt, đã qua sử dụng,
- 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AN058108 mang tên Nguyễn Văn L3 Sở Giao thông Vận tải tỉnh T cấp;
- 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô biển số 75K1-095.49
* Tại Bản Kết luận số 568-23/KLTTCT-GDPY ngày 15/11/2023, Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T tổn thương cơ thể đối với ông Trần Ngọc T như sau:
1. Các kết quả chính: Kết quả giám định:
Chấn thương sọ não-tụ máu ngoài màng cứng thái dương phải, dập não trán phải, xuất huyết dưới nhện điều trị nội khoa ổn định, không có di chứng thần kinh 21%.
Chấn thương vỡ phức hợp mũi - sàng - bướm: 36%;
Chấn thương vỡ sọ trán lan xuống ổ mắt phải: 10%
Vết thương bờ ngoài mắt phải: 3%.
Tổn thương thần kinh thị hậu nhãn cầu mắt phải hiện mù mắt phải: 41% Sẹo gò má phải: 3%
Vỡ cung tiếp gò má phải điều trị nội khoa: 8%
Trật khớp lồi cầu trong phải điều trị nội khoa ổn định, không ảnh hưởng chức năng, không xếp tỷ lệ.
Vết biến đổi sắc tố da ngoài khuỷu tay phải và gối phải: 1%
Diện biến đổi sắc tố da mu bàn chân phải: 1%
2. Kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Ngọc T4 thời điểm giám định là 77%.
Căn cứ vào biên bản thực nghiệm điều tra tại hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã xác định vị trí va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện trên đường là tại vị trí số (dấu vết) 03+04 nằm bên phải theo chiều lưu thông của hai phương tiện cùng chiều.
Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn qua hơi thở ngày 30/8/2023, xác định trong hơi thở của Nguyễn Văn L4 nồng độ cồn 0,069mg/l.
* Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp cho ông Trần Ngọc T5 lại xe mô tô 75K1-095.49 cùng đăng ký xe cho Nguyễn Văn L5 với Giấy phép lái xe hạng A1 của Nguyễn Văn L6 lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
*Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo L2 thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 16.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ tiền, không có ý kiến gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L
Tại bản Cáo trạng số: 128/CT-VKSTPH ngày 31-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố Nguyễn Văn L7 tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án; về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo luật định.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
[1.2] Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm đã xác định anh Võ Đại P1 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án do anh P2 tên chủ sở hữu xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 75K1-095.49. Tại phiên tòa, xét thấy lời khai của anh P3 hồ sơ vụ án xác nhận đã bán xe này từ lâu và việc xử lý chiếc xe không còn liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của anh P4 nên Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tố tụng của anh Võ Đại P1 người làm chứng. Việc anh P5 mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án; căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P
[2] Xét hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 14 giờ 25 phút ngày 30/8/2023, tại trước cột điện số 02 - đường T, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên HuếNguyễn Văn Lđã có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 75K1-095.49 theo hướng từ cầu Trường Tiền qua đường T về cầu G; lúc này Ông Trần Ngọc T1 khiển xe đạp đi cùng chiều phía trước di chuyển chếch chéo từ trái sang phải đường, bị cáo L1 khiển xe mô tô vượt lên bên phải xe đạp của ông T6 tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông Trần Ngọc T7 tổn thương cơ thể 77%.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L8 vượt xe không có báo hiệu và vượt xe về bên phải, vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, kết quả xét nghiệm nồng độ cồn của bị cáo là 0,69mg/1 khí thở nên bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia quy định: Sửa đổi, bổ sung khoản 8 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn L9 phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về lỗi trong vụ án: Lỗi chính, trực tiếp dẫn đến tai nạn là do bị cáo Nguyễn Văn L. Ngoài ra, bị hại Ông Nguyễn Ngọc T8 có phần lỗi do điều khiển xe thô sơ nhưng đi không đúng làn đường, khi chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước là vi phạm Điều 13 Luật giao thông đường bộ.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại; bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ án và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia lực lượng dân quân tự vệ được chính quyền địa phương nhiều lần khen thưởng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt được áp dụng.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ nhưng do chủ quan dẫn đến hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông ở địa phương. Nguyên nhân của vụ tai nạn lỗi chính thuộc về bị cáo. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội do lỗi vô ý; xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sữa chữa lỗi lầm, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng: Ngày 16/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Văn L10 xe mô tô Yamaha Exciter biển kiểm soát 75K1-095.49 và Giấy chứng nhận đăng ký xe; trả lại xe đạp đã qua sử dụng màu vàng đồng, có giỏ bằng sắt cho ông Trần Ngọc T9 đúng quy định của pháp luật.
Đối với Giấy phép lái xe hạng A1 của Nguyễn Văn L được lưu giữ tại hồ sơ vụ án, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong về nghĩa vụ dân sự. Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo Nguyễn Văn L11 chịu 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L12 tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L10 (một) năm 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L13 Ủy ban nhân dân phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huếgiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L10 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn L. Vật chứng đã được trả lại cho bị cáo tại Tòa án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Như Thuần |
Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 143/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
