|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 143/2024/HNGĐ - ST Ngày: 13-12-2024 V/v ly hôn; nuôi con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lãnh Văn Việt;
- Bà Vũ Thị Mai.
Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Ca, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:
Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2024/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Huyền N, sinh năm 2001 (có đơn vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Anh Đặng Văn Q, sinh năm 1999 (có đơn vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Vũ Huyền N trình bày:
Chị và anh Đặng Văn Q kết hôn với nhau vào năm 2019, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn Đ, xã T, huyện L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, từ năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế, thường xuyên xảy ra to tiếng (chị đã chuyển khẩu về thôn T, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội sinh sống cho đến nay). Vợ chồng đã sống ly thân nhau một thời gian dài. Nay thấy vợ chồng không thể đoàn tụ được nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Đặng Văn Q.
- Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung là Đặng Minh Đ, sinh ngày 10/02/2019, cháu Đặng Minh A, sinh ngày 27/7/2021. Ly hôn nguyện vọng của chị được nuôi một con là cháu Đăng Minh A1, để anh Q là người nuôi dưỡng cháu Đặng Minh Đ.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh Đặng Văn Q mỗi người nuôi một con nên không yêu cầu ai phải cấp dưỡng, không đề nghị Toà án xem xét giải quyết vấn đề cấp dưỡng.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Văn Q trình bày:
Về hôn nhân: Anh xác định về quan hệ hôn nhân, thời gian anh và chị N cưới nhau về chung sống và có đăng ký kết hôn như chị N trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng, xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến sống chung không có hạnh phúc. Nay chị N xin ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Anh thống nhất lời trình bày trên của chị N, vợ chồng có hai con chung như chị N trình bày. Sau khi ly hôn, chị N nuôi một con là cháu Đăng Minh A1, anh là người nuôi dưỡng cháu Đặng Minh Đ.
Về tài sản, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký Toà án thực hiện theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên toà Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228; 238; khoản 4 Điều 147, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: cho ly hôn giữa chị Vũ Huyền N và anh Đặng Văn Q.
Về nuôi con chung: Giao cho chị Vũ Huyền N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Minh A, sinh ngày 27/7/2021, giao cho anh Đặng Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 10/02/2019. Ngoài ra còn đề xuất án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Vũ Huyền N yêu cầu giải quyết ly hôn, bị đơn anh Đặng Văn Q có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vì vậy Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; Tại phiên tòa, nguyên đơn; bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về hôn nhân:
Chị Vũ Huyền N và anh Đặng Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L là đảm bảo đúng các điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống vợ chồng, chị N và anh Q đều xác định có phát sinh mâu thuẫn không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Nay quan điểm của chị N đề nghị giải quyết ly hôn với anh Q, anh Q cũng đồng ý ly hôn. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, vì vậy xác định hôn nhân giữa chị N và anh Q đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận đơn ly hôn của chị N theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3]Về nuôi con chung: Vợ chồng chị N và anh Q có 02 con chung là Đặng Minh Đ, sinh ngày 10/02/2019, cháu Đặng Minh A, sinh ngày 27/7/2021, nguyện vọng các bên sau khi ly hôn chị N nuôi dưỡng cháu Đặng Minh A, anh Q nuôi dưỡng cháu Đặng Minh Đ. Vì vậy cần giao cho chị N, anh Q mỗi người nuôi một con chung như đúng theo nguyện vọng của các bên và đảm bảo đúng quy định Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về Tài sản riêng, chung; Công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: chị Vũ Huyền N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo đúng quy định tại Điều 24, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 228; 238; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 24; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- Cho ly hôn giữa chị Vũ Huyền N và anh Đặng Văn Q.
-
Về nuôi con chung:
Giao cho chị Vũ Huyền N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Minh A, sinh ngày 27/7/2021; Giao cho anh Đặng Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 10/02/2019 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Chị Vũ Huyền N và anh Đặng Văn Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Chị Vũ Huyền N phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đồng chị N đã nộp tại biên lai thu số 0006406 ngày 23/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh |
Bản án số 143/2024/HNGĐ - ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn; nuôi con chung
- Số bản án: 143/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn; nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xet xu so tham
