Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-9-2024

V/v tranh chấp ly hôn,

tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lương Văn Cẩu

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ

-Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Châu Thành.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:

không tham gia.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 6 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 238/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: La Thị Mỹ T, sinh năm: 1999 (có đơn xin vắng mặt)

ĐKHKTT: Ấp H, xã V, huyện C, An Giang.

Tạm trú: số B, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

-Bị đơn: anh Nguyễn Cao T1, sinh năm: 1997 (vắng mặt)

ĐKHKTT: Ấp H, xã V, huyện C, An Giang

Tạm trú: Ấp Bà T2, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 27/5/2024, nguyên đơn chị La Thị Mỹ T trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị Mỹ T và anh Nguyễn Cao T1 kết hôn năm 2018, hôn nhân do quen biết, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn. Sau thời gian chung sống thì đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do anh T1 có quan hệ với người phụ nữ khác, chị có hình ảnh anh T1 quen với người khác. Chị đã nộp đơn ra tòa nhưng muốn tha thứ cho anh T1 và vì lo cho con nên chị rút đơn ly hôn nhưng từ khi rút đơn anh T1 vẫn không thay đổi, vẫn quen người phụ nữ khác và còn đánh đập chị nhiều hơn. Chị và anh T1 ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Cao T1.

-Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Cao Minh T3, sinh năm: 2019. Hiện con đang sống với chị. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi con và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

-Về tài sản và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn anh Nguyễn Cao T1 trình bày:

-Về hôn nhân: Anh thống nhất phần trình bày của chị T về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian có phát sinh mâu thuẩn. Anh thừa nhận trước đó có quen người khác nhưng đã lâu rồi, hiện tại anh không có quen ai khác, anh còn thương vợ, anh muốn đoàn tụ hàn gắn. Nay trước yêu cầu xin ly hôn của chị T, anh không đồng ý ly hôn, anh xin đoàn tụ hàn gắn.

-Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Cao Minh T3, sinh năm: 2019. Hiện con đang sống với chị T. Sau ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

-Về tài sản và nợ chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về nội dung vụ án:

[1.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị La Thị Mỹ T và anh Nguyễn Cao T1 kết hôn năm 2018, hôn nhân do quen biết, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo đơn chị T trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do anh T1 có quan hệ với người phụ nữ khác, chị có hình ảnh anh T1 quen với người khác. Chị đã nộp đơn ra tòa nhưng muốn tha thứ cho anh T1 và vì lo cho con nên chị rút đơn ly hôn nhưng từ khi rút đơn anh T1 vẫn không thay đổi, vẫn quen người phụ nữ khác và còn đánh đập chị nhiều hơn. Chị và anh T1 ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên tôi yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Cao T1. Còn anh T1 cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian có phát sinh mâu thuẩn. Anh thừa nhận trước đó có quen người khác nhưng đã lâu rồi, hiện tại anh không có quen ai khác, anh còn thương vợ, anh muốn đoàn tụ hàn gắn. Nay trước yêu cầu xin ly hôn của chị T, anh không đồng ý ly hôn, anh xin đoàn tụ hàn gắn. Xét thấy với thời gian chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân là do anh T1 có quen biết người phụ nữ khác, anh T1 cũng thừa nhận có quen người khác từ đó dẫn đến phát sinh mâu thuẩn vợ chồng, tuy mâu thuẩn xãy ra nhưng các bên không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện tại chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 chị giữ nguyên phần trình bày vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị T và anh T1 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2]Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Cao Minh T3, sinh năm: 2019. Hiện con đang sống với chị. Sau ly hôn chị T yêu cầu nuôi con và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Còn anh T1 sau ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ nhỏ đến nay cháu T3 đều sống chung với chị T, được chị và gia đình chăm sóc, cuộc sống hiện tại tương đối ổn định. Do đó để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hai cháu, nghĩ nên để chị T được tiếp tục nuôi cháu T3 là phù hợp. Chị T phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T3 được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh thực hiện quyền này.

[2.3]Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện ly hôn ngày 27/5/2024 và tại phiên tòa hôm nay chị T yêu cầu anh Nguyễn Cao T1 phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Xét thấy nghĩa vụ nuôi con chung là của cả cha lẫn mẹ, người nào không phải nuôi con thì phải cấp dưỡng, việc chị T yêu cầu nuôi con và có yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Do đó nghĩ nên chấp nhận yêu của chị T, buộc anh T1 phải cấp dưỡng nuôi cháu T3 theo quy định pháp luật bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng, tính theo từng thời điểm mức lương nhà nước quy định cho đến khi cháu T3 tròn 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 23/8/2024, tiền cấp dưỡng do chị T đại diện nhận.

[2.4] Về tài sản và nợ chung: Chị La Thị Mỹ T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.5] Về án phí: Do yêu cầu của chị La Thị Mỹ T được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị La Thị Mỹ T. Cho ly hôn giữa chị La Thị Mỹ T và anh Nguyễn Cao T1.
  2. Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Cao Minh T3, sinh năm: 2019. Sau ly hôn chị T được nuôi dưỡng cháu T3, anh T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật bằng ½ mức lương cơ sở theo từng thời điểm thi hành án cấp cho đến khi cháu T3 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng lần đầu vào ngày 23/8/2024, tiền cấp dưỡng do chị T đại diện nhận. Chị T phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T1 được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.
  3. Về tài sản và nợ chung: Chị La Thị Mỹ T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị La Thị Mỹ T phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004797 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Anh Nguyễn Cao T1 phải chịu số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
  5. Về kháng cáo: Chị La Thị Mỹ T và anh Nguyễn Cao T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 143/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị La Thị Mỹ T Cho ly hôn giữa chị La Thị Mỹ T và anh Nguyễn Cao T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger