TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 143/2024/DS-ST
Ngày 12/9/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Hồng Hạnh
Ông Lê Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 135/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 484/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 575/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ
Địa chỉ: Số B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Huỳnh Bá H (Văn bản ủy quyền ngày 05/4/2024) (có mặt).
Địa chỉ liên lạc: Lầu F, Toà nhà P, số A T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Bà Lê Kim N, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/02/2021, bà Lê Kim N có vay Ngân hàng TMCP Đ số tiền 50.000.000đồng trả góp bằng lương, thời hạn vay 30 tháng và mở thẻ tín dụng 15.000.000đồng, thời hạn trả 36 tháng, hai khoản vay này sử dụng vào mục đích tiêu dùng. Sau khi vay tiền bà N đã trả khoản vay góp lương 31.885.557đồng nợ gốc, trả lãi 8.675.097đồng và trả khoản vay thẻ tín dụng 16.910.712đồng nợ gốc, trả lãi 2.061.918đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà N đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cam kết, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà Lê Kim N phải toán số tiền còn nợ tính đến nay là 51.733.294đồng. Trong đó vay góp lương còn nợ gốc 18.114.443đồng, nợ lãi 8.675.501đồng và nợ thẻ tín dụng vốn gốc 9.833.288đồng, nợ phí 7.268.810đồng, lãi 7.841.252đồng. Ngoài ra, bà N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
Bị đơn bà Lê Kim N vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 12/9/2024 là 53.013.093đồng. Trong đó: Khoản vay góp lương còn nợ gốc 18.114.443đồng, lãi trong hạn 1.573.994đồng, lãi quá hạn 7.428.415đồng, lãi chậm trả 255.422đồng; Thẻ tín dụng vốn gốc còn nợ 9.833.288đồng, lãi trong hạn 7.651.230đồng, lãi quá hạn 8.156.301đồng. Ngoài ra, nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bị đơn phải chịu tiền lãi quá hạn phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào yêu cầu của đương sự và nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu trả nợ gốc, nợ lãi: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên toà cho thấy: Ngày 26/02/2021, bà Lê Kim N có ký kết hợp đồng vay trả góp bằng lương hạn mức 50.000.000đồng, thời hạn vay 30 tháng và mở thẻ tín dụng 15.000.000đồng, thời hạn trả 36 tháng, hai khoản vay này sử dụng vào mục đích tiêu dùng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà N đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 59.703.313đồng bao gồm gốc và lãi của 02 khoản vay. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu thanh toán số nợ còn lại nhưng bà N vẫn không thanh toán. Do bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng theo như thoả thuận trong hợp đồng vay góp lương và quy định về sử dụng thẻ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N phải thanh toán số tiền còn nợ. Tính đến ngày 12/9/2024, bà N còn nợ lại Ngân hàng tổng số tiền của 02 khoản vay là 53.013.093đồng bao gồm gốc và lãi nên bà N phải có trách nhiệm trả số nợ này này. Ngoài ra, bà N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo thoả thuận trong hợp đồng vay đã ký kết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
2
[4] Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 100 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng 2024;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc bà Lê Kim N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền 53.013.093đồng. Trong đó: Khoản vay góp lương còn nợ gốc 18.114.443đồng, lãi trong hạn 1.573.994đồng, lãi quá hạn 7.428.415đồng, lãi chậm trả 255.422đồng; Thẻ tín dụng vốn gốc còn nợ 9.833.288đồng, lãi trong hạn 7.651.230đồng, lãi quá hạn 8.156.301đồng. Kể từ ngày 13/9/2024 bà N còn phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đồng vay trả góp lương, hợp đồng cấp thẻ tín dụng mà bà N đã ký kết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 2.650.000đồng, bà N phải chịu. Ngân hàng TMCP Đ được nhận lại 1.139.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007700 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đỡ |
3
Bản án số 143/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 143/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
