Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:143/2024/HS-ST

Ngày: 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Khả.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Mạnh Hải.

Ông Nguyễn Đăng Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 142/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1974.
  2. Nơi cư trú: Khu phố E C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1934 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1942 (Đã chết); gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ Trần Thị O, sinh năm 1976; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2000;

    Tiền sự, tiền án: Không;

    Nhân thân: Tại bản án số 152/2012/HSST ngày 09/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 24/6/2014 chấp hành xong toàn bộ bản án.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt)

  3. Sa Văn T2, sinh năm 1989.
  4. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sa Văn T3, sinh năm 1952 (Đã chết) và bà Hoàng Thị B, sinh năm 1952; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ Lò Thị T4, sinh năm 1991; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018;

    Tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại bản án số 96/2020/HSST ngày 24/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2022.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Trần Thị O, sinh năm 1976 (vợ của T),

Nơi cư trú: Khu phố E C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, tại khu vực đường gần Trung tâm y tế thành phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 1.000.000 đồng tiền ma túy được 03 gói ma túy đều bọc ngoài là lớp giấy màu bạc để bán kiếm lời. Sau đó, T cất 03 gói ma túy vừa mua được vào chiếc tất đang đi ở bàn chân phải của T rồi đi về nhà T ở khu phố E C, phường Đ.

Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang ở nhà thì T2 dùng điện thoại di động N 1280 lắp sim số 0981.489.853 của T2 gọi vào số điện thoại 0941.327.xxx của T hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine để sử dụng. T đồng ý và hẹn T2 đến khu vực quán C thuộc khu phố C C, phường Đ để bán ma túy. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 99H4-3940 đi đến chỗ hẹn thì gặp T2 tại khu vực cây xăng thuộc khu phố C, phường Đ. Tại đây, T2 đưa cho T 500.000 đồng (gồm: 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), T cầm tiền rồi đưa lại cho T2 01 gói ma túy Heroine được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc. Sau khi bán ma túy cho T2 xong, T điều khiển xe mô tô đi về nhà. Còn T2 cầm gói ma túy mua được đi về phòng trọ thuê của ông Vũ Công H, sinh năm 1965 tại khu phố T, phường T, thành phố T. Tại đây, T2 sử dụng một phần gói ma túy vừa mua được, số ma túy còn lại T2 chia ra làm hai phần rồi dùng giấy gói lại thành 02 gói đút vào túi quần bên trái T2 đang mặc để bán kiếm lời.

Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, T2 bắt xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến quán bia của anh Lê Xuân H1, sinh năm 1987, địa chỉ tại khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh chơi. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi T2 vào trong quán bia của anh H1 thì gặp anh H1 và Nguyễn Hữu T5 đang ngồi ở bàn uống nước. Tại đây, thấy T2 có biểu hiện giống người sử dụng ma túy nên T5 nảy sinh ý định hỏi xem T2 có ma túy bán thì mua để sử dụng. T5 hỏi mua của T2 400.000 đồng tiền ma túy Heroine, T2 đồng ý. T5 đưa cho T2 400.000 đồng, T2 cầm tiền rồi đưa lại cho T5 01 gói ma túy bọc ngoài là lớp giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh, T5 nhận và cầm gói ma túy T2 đưa ở lòng bàn tay phải. Đúng lúc này, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 15/12/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Nguyễn Văn T. Quá trình khám xét, T đã đầu thú và khai nhận về hành vi bán trái phép chất ma túy cho T2 ngày 14/12/2023 đồng thời tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen gắn sim số 0941.327.556 của T dùng để liên lạc bán ma túy cho T2; số tiền 500.000 đồng (gồm: 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) là tiền bán ma túy cho T2 mà có; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh BKS:99H4-3940, số khung 105Y069525, số máy 5VT1-9525, T đã sử dụng mang ma túy đi bán cho T2; 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng bên trong chiếc tất Thái đang đi ở chân phải, T khai nhận đây là chất ma túy T tàng trữ mục đích để bán kiếm lời.

* Vật chứng thu giữ:

Thu giữ của T5: Tại lòng bàn tay phải của T5 01 gói nhỏ bọc ngoài là lớp giấy màu trắng, có dòng kẻ màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng, T5 khai là ma túy vừa mua được của T2 để sử dụng cho bản thân, được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu (M1); 01 mảnh giấy màu trắng có ghi các chữ số CT 22548374 và PR 21672052 là số Seri của 02 tờ tiền 200.000 đồng của T5, T5 ghi lại để sau đó sẽ đi mua xổ số miền bắc;

Thu giữ của T2: Tại túi quần phía trước bên trái T2 đang mặc 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng có số seri lần lượt là CT 22548374 và PR 21672052 là tiền T2 vừa bán ma túy cho T5 mà có; 01 gói nhỏ được bọc ngoài là giấy màu bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng, T2 khai nhận là ma túy của T2 tàng trữ để bán kiếm lời, được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu (M2), 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen gắn sim số 0981.489.853

Tại Kết luận giám định số 40/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

“- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng là 0,0566 gam, là ma túy, loại ma túy: Heroine;

- Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng là 0,1217 gam, là ma túy, loại ma túy: Heroine".

Tại Kết luận giám định số 42/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài là lớp giấy màu bạc có khối lượng là 0,3326 gam, là ma túy, loại ma túy: Heroine". Thu của T2

Tại Bản Cáo trạng số 59/CT-VKSTS ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T và Sa Văn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T và Sa Văn T2 khi nhận toàn bộ hành vi hành vi mua và bán ma túy như bản cáo trạng đã truy tố .

Các bị cáo T và T2 không khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đối với các bị cáo trong giai đoạn điều tra và truy tố vụ án. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, đã truy tố các bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan cho các bị cáo.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Sa Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1,5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 36 đến 39 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000₫ đến 7.000.000₫.

- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sa Văn T2 từ 34 đến 37 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2023. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000₫ đến 7.000.000₫.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen thu của T2; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đenThái và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh BKS:99H4-3940, số khung 105Y069525, số máy 5VT1-9525 và trích trả chị Trần Thị O ½ giá trị chiếc xe sau khi đấu giá.

- Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc sim số 0981.489.853 và 0941.327.556.

Các bị cáo không tham gia tranh luận.

Người liên quan chị O đề nghị Tòa án xem xét cho chị xin lại chiếc xe máy vì đó là tài sản chung của hai vợ chồng.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T2 đề nghị xin được miễn phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản đầu thú, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, tại khu phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, T bán cho T2 0,1783 gam ma túy Heroine với giá 500.000 đồng để kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, T2 cầm gói ma túy mua về phòng trọ của T2 tại khu phố T, phường T, thành phố T và sử dụng một phần gói ma túy vừa mua được. Số ma túy còn lại T2 chia ra làm 02 gói để bán kiếm lời. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, tại khu phố P, phường P, thành phố T, T2 bán cho Nguyễn Hữu T5 0,0566 gam ma túy Heroine với giá 400.000 đồng và cất giữ 0,1217 gam ma túy Heroine trong người để bán kiếm lời và bị lực lượng Công an bắt quả tang. Ngày 15/12/2023, T đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy cho T ngày 14/12/2023. Ngoài ra T còn giao nộp 0,3326 gam ma túy Heroine do T tàng trữ để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy T bán và tàng trữ để bán là 0,5109 gam ma túy Heroine; Tổng khối lượng ma túy T2 bán và tàng trữ để bán là 0,1783 gam ma túy Heroine. Do vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Sa Văn T2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạm vào khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T2 có 01 tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T đã đầu thú nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung các bị cáo một khoản tiền để sung ngân sách Nhà nước, tại phiên tòa bị cáo T không có ý kiến gì về phạt bổ sung như đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo T2 trình bày bị cáo là người dân tộc, không có công ăn việc làm, không có tài sản và xin được miễn tiền phạt, Hội đồng xét xử thấy hoàn cảnh của bị cáo T2 là khó khăn nên miễn phạt bổ sung cho bị cáo T2 là phù hợp.

[5] Về vật chứng:

[5.1] Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K Công an tỉnh B là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

[5.2] Đối với số tiền 900.000 đồng thu giữ của bị cáo T và bị cáo T2 là tiền phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;

[5.3] Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen thu của T2; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen thu của T là vật chứng cần tịch thu sung ngân scah Nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu xanh BKS:99H4-3940, số khung 105Y069525, số máy 5VT1-9525 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, tuy nhiên đó là tà sản chung của T và chị O trong thời kỳ hôn nhân, chị O không biết T dùng vào việc phạm tội, do vậy tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ½ giá trị của xe mô tô trên, ½ giá trị của xe mô tô trên còn lại trả lại cho chị Trần Thị O sau khi được bán đấu giá theo qui định.

Đối với 02 chiếc sim gắn theo máy điện thoại của T và T2 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 mảnh giấy màu trắng có ghi các chữ số CT 22548374 và PR 21672052 là số Seri của 02 tờ tiền 200.000 đồng của T5 cần lưu hồ sơ vụ án.

[6] Liên quan trong vụ án:

[6.1] Người thanh niên đã bán ma túy cho T, do T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[6.2] Đối với người mua ma túy của T2, khi bị bắt quả tang khai nhận có họ tên là Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1990, nơi cư trú: Khu phố M, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, quá trình làm việc, khoảng 03 giờ ngày 15/12/2023, lợi dụng sơ hở, T5 đã bỏ trốn. Qua xác minh tại phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh thấy: Không có thông tin về người tên T5 đã tự khai nhận. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

[6.3] Đối với chị Trần Thị O, sinh năm 1976 (vợ T), không biết T dùng xe mô tô của gia đình đi bán ma túy ngày 14/12/2023 nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[6.4] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 14/12/2023 của T2, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo là phù hợp.

[6.5] Đối với ông Vũ Công H, sinh năm 1965, trú tại: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (là chủ phòng trọ của T2), không biết việc T2 sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn TSa Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1,5 Điều 251; điểm s khoản, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2023. Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 5.000.000₫ sung ngân sách Nhà nước.

      Quyết định tạm giam Nguyễn Văn T 45 ngày kể từ ngày 07/5/2024 để đảm bảo thi hành án.

    3. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s k hoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
    4. Xử phạt bị cáo Sa Văn T2 34 (ba mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2023. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T2.

      Quyết định tạm giam Sa Văn T2 45 ngày kể từ ngày 07/5/2024 để đảm bảo thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật còn lại sau giám định; đã được phòng kỹ thuật hìn sự Công an tỉnh B niêm phong, mặt trước phong bì có chữ “cơ quan CSĐT CTP Từ sơn, mẫu vật sau giám định kèm theo kết luận giám định số 42/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B.
    2. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì mẫu vật còn lại sau giám định; đã được phòng kỹ thuật hìn sự Công an tỉnh B niêm phong, mặt trước phong bì có chữ “cơ quan CSĐT CTP Từ sơn, mẫu vật sau giám định kèm theo kết luận giám định số 40/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của phòng K Công an tỉnh B.
    3. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen thu của T; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen thu của T2.
    4. Tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu xanh BKS:99H4-3940, số khung 105Y069525, số máy 5VT1-9525. Trả lại chị Trần Thị O, ½ giá trị còn lại của xe mô tô trên sau khi được bán đấu giá theo qui định.
    5. Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc sim số 0981.489.853 và 0941.327.556.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn TSa Văn T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP. Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS TP. Từ Sơn;
  • - Trại giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan THA HS Công an tỉnh BN
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Sỹ Khả

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 143/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo mua ma tuý vè SD
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger