|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/DS-PT Ngày 02 tháng 7 năm 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
Bà Triệu Thị Luyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh- Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 02 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS- ST ngày 15 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 76/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966 (có mặt)
Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1956 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Văn M: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (ông Đ có mặt, ông M vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ: Ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Ngọc L- Luật sự- Công ty L9. Địa chỉ: P, Tòa HH2 B, số A T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn N: Ông Nguyễn Văn H1- Luật sư Văn phòng Luật sư Đào Nguyễn . Địa chỉ: P tòa H, số B đường N, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1966 (có mặt)
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang
- Bà Đoàn Thị O, sinh năm 1961 (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1980 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1959 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1964 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1966 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1968 (có mặt)
- Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1955 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1957 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị L5, sinh năm 1962 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị L6, sinh năm 1970 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
- Ông Nguyễn Văn L7, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- UBND xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo ủy quyền của bà N1, anh T và chị T1: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (ông Đ có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thu H2 và chị Nguyễn Thị Thanh T2: Bà Đoàn Thị O, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (chị T2 vắng mặt, bà O có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: Khu C, thị xã X, huyện C, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến D- Chủ tịch UBND xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong các đơn khởi kiện kèm theo giấy tờ, các tài liệu liên quan và lời khai tại Toà án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Văn M đều trình bày: Năm 1987 gia đình anh do ông M2 là chủ hộ được nhà nước giao cho thửa ruộng thửa số 50 tờ bản đồ số 7, diện tích 192m² ở tại xứ đồng H, thôn Đ nay là thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang diện tích 192m² gia đình anh N do ông Nghĩa 1 chủ hộ được giao thửa ruộng 6 thước chân 2 lúa ở xứ đồng B. Để tiện lợi cho việc canh tác nên ông M2 và ông N4 có đổi ruộng tạm thời cho nhau, ông N4 lấy thửa số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² còn gia đình ông M2 lấy thửa ruộng 6 thước chân 2 lúa ở xứ đồng Bờ Chó của gia đình ông N4. Theo thỏa thuận, khi nào hai bên có nhu cầu thì đổi lại, việc đổi ruộng giữa hai ông chỉ là đổi miệng không có giấy tờ, không qua ủy ban nhân dân xã. Hai gia đình đã sử dụng ruộng cho đến năm 1989 thì ban quản lý thôn thu hồi và chia lại đất ruộng hạng 7 thì thửa số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² giao cho gia đình ông Đ và gia đình ông M mỗi hộ được 4 thước. Để thuận tiện cho canh tác gia đình ông Đ và gia đình ông M vẫn đổi cho gia đình ông N4 và tiếp tục sử dụng thửa ruộng 6 thước như hai bên đã đổi cho nhau. Đến năm 2005 thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa của xã T thì thửa ruộng 6 thước ở xứ đồng Bờ Chó của gia đình ông N4 thuộc diện dồn điền đổi thửa nên hai ông đã trả cho thôn, còn thửa ruộng của hai ông do ông N4 đang sử dụng không thuộc diện phải dồn điền đổi thửa. Sau đó gia đình hai ông đã đòi gia đình ông N4 nhiều lần nhưng ông N4 không trả và có lúc ông N4 đồng ý trả nhưng trả thửa ruộng ở chỗ khác chứ không trả hai ông thửa ruộng số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m². Đến nay ông N4 và ông M2 đều đã chết và anh N con ông N4 hiện đang sử dụng thửa ruộng này. Nay ông Đ và ông M yêu cầu anh N trả các anh thửa số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m nay là thửa số 180 tờ bản đồ số 01 đã được đo lại diện tích là 193m², đồng thời yêu cầu anh N trả mức khoán thấp nhất là 60kg thóc/1năm tương ứng với số năm đã sử dụng ruộng. Tại phiên tòa hai ông yêu cầu anh N trả tiền khoán ruộng hai anh 18 năm x 60kg/năm x 5.000đồng/kg=5.400.000 đồng.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn N, người bảo vệ quyền và lợi ích cho anh N trình bày: Nguồn gốc thửa ruộng số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² là của gia đình ông N4 bố anh làm chủ hộ. Việc đổi chác như thế nào anh không rõ anh chỉ biết từ năm những 1985, gia đình anh đã canh tác thửa ruộng số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² tại xứ đồng Hóc Mỏ sát cổng nhà anh. Khi anh lớn lên gia đình anh vẫn sử dụng thửa ruộng này. Sau này, do bố mẹ anh già cả, hết tuổi lao động, bố mẹ anh đã giao thửa ruộng đó cho anh sử dụng và hiện nay anh vẫn đang sử dụng ổn định. Từ khi lớn lên cho đến năm 2009 anh T3 là anh vợ ông Đ và ông Đ có sang nhà anh đòi thửa ruộng này thì anh và bố anh là ông N4 đều nói với ông Đ là gặp chính quyền thôn giải quyết và không đồng ý trả theo yêu cầu của ông Đ. Nay ông Đ và ông M cho rằng gia đình anh đã đổi ruộng cho ông N4 (bố anh) và yêu cầu trả thửa ruộng trên anh không đồng ý vì thửa ruộng số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m², tại xử đồng Hóc Mỏ sát cổng nhà anh, gia đình anh đã đăng ký tại UBND xã T theo bản đồ địa chính năm 1987 đã năm trong diện tích đất vườn của gia đình anh. Nay anh xác định thửa ruộng số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m², nay là thửa số 180 tờ bản đồ số 01 đã được đo lại diện tích là 193m2 tại tại xứ đồng Hóc Mỏ sát cổng nhà anh là của gia đình anh. Ông Đ, ông M xác định là của gia đình ông Đ và ông M là không có căn cứ cho nên ông M, ông Đ yêu cầu anh trả ruộng và yêu cầu anh trả thóc khoán thầu với số tiền thóc 5.400.000 đồng anh không đồng ý. Anh N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đề nghị giao cho anh N thửa đất số 50, tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² (đo thực tế 193m²).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông N2 và ông N3 đều trình bày: Các ông là con của ông Nguyễn Văn N5 và bà Nguyễn Thị X bố mẹ anh sinh được 11 anh chị em gồm Nguyễn Văn N2, Nguyễn Văn N3, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Thị L3, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L4, Nguyễn Thị L5, Nguyễn Thị L6, Nguyễn Văn L7 bố ông là bà X mất tháng 05 năm 2013 và ông N5 mất tháng 8 năm 2013. Theo ông được biết những năm 1980, gia đình lúc đó do ông Nghĩa 1 chủ hộ gồm có anh N và bố mẹ canh tác thửa ruộng tại xứ đồng Hóc Mỏ, sát cổng nhà ông, ông cũng đã nhiều năm cùng gia đình canh tác tại thửa ruộng đó, khi ông xây dựng gia đình gia ở riêng bố mẹ ông vẫn canh tác tại thửa ruộng này. Sau này, do bố mẹ ông già cả, hết tuổi lao động, bố mẹ đã giao thửa ruộng đó cho em trai là Nguyễn Văn N quản lý sử dụng ổn định đến nay không ai có ý kiến gì và không ai có tranh chấp. Nay ông Đ, ông M kiện đòi anh N phải trả diện tích đất nói trên là không đúng. Đề nghị tòa án xem xét giải quyết không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Đ và ông M.
- Ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị L5, bà Nguyễn Thị L3, ông Nguyễn Văn L2, anh Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị L4, bà Nguyễn Thị L6, ông Nguyễn Văn L7 đều trình bày đồng ý với ý kiến của ông N2 và ông N3.
- Chị Đ1 (vợ anh N) đồng ý với ý kiến của anh N.
- Bà N3 (vợ ông Đ), anh T, chị T1 (con ông Đ) đồng ý với ý kiến của ông Đ.
- Bà O (vợ ông M), chị T2, chị H2 (con ông M) đồng ý với ý kiến của ông M.
- Người đại diện hợp pháp UBND xã T trình bày: Năm 2014 sau khi nhận đơn khởi kiện của gia đình ông Đ và ông M UBND xã đã hòa giải và được biết năm 1987 gia đình ông M2 và gia đình ông N5 có đổi ruộng cho nhau cụ thể thỏa thuận như thế nào địa phương không rõ. Sau khi có đơn UBND xã đã tra sổ địa chính và bản đồ địa chính các năm 1987 thì sổ thuế đất vườn năm 1987 ghi thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m², tại xứ đồng H, thôn Đ này là thôn Đ thuộc của gia đình ông N5 còn việc giữa hai gia đình đổi với nhau từ năm 1986 hoặc năm 1987 cụ thể chính quyền địa phương không năm được. Thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m², nay là thửa số 180 tờ bản đồ số 01 đã được đo lại diện tích là 193m2 tại xứ đồng H, thôn Đ chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bất kỳ gia đình nào. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Đ, gia đình ông M, gia đình anh N đều không có thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m, nay là thửa số 180 tờ bản đồ số 01 đo lại diện tích là 193 m2 tại xứ đồng H thôn Đ.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn L8 trình bày: Năm 1988 đến năm 1990 anh làm đội trưởng thôn Đường S, anh được biết năm 1979 toàn bộ cây cối trước kia trồng được chặt để sử dụng chung sau khi chặt cây thì các hộ có ra vỡ đất để sử dụng cho đến năm 1985 hợp tác xã có nghị quyết gom phần đất khai hoang lại để chia đều cho các khẩu để canh tác. Theo anh thì đất hiện nay hai gia đình đang tranh chấp lúc đầu là do hộ ông M2 khai hoang và canh tác sau đó ông M2 và ông N5 đổi cho nhau như thế nào anh không biết đến năm 1989 khi làm trưởng thôn anh đã thu lại của gia đình ông M2 và anh ghi lại vị trí chia ruộng của ông Đ và ông M đến năm 1992 anh nghỉ trưởng thôn cụ thể thế nào anh không rõ.
- Ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông làm trưởng thôn đường sơn từ năm 1992 đến năm 1999 khi ông làm trưởng thôn thì ông N5 đã canh tác thửa đất đang tranh chấp việc đổi ruộng giữa hai gia đình cụ thể ông không rõ, đến khi làm thủ tục điều chỉnh ruộng đất theo luật đất đai năm 1993 sau khi điều chỉnh xong thì lập danh sách các hộ đang sử dụng. Khi làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận QSD đất thì ghi tổng số không ghi số thửa cụ thể, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ ông N5 kê khai diện tích đất tranh chấp còn cụ thể số thửa như thế nào ông không biết. Theo ông được biết thì diện tích đất này nằm trong diện tích đất nhà ông N5. Năm 2005 dồn điền đổi thửa đất hạng 7 không kê khai, không thuộc dồn điển đổi thửa cho nên ông không rõ.
Với nội dung trên, bản án dân sự số 112/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã căn cứ Điều 164; Điều 165; Điều 167, Điều 169, Điều 170 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 3, 20, 73 và Điều 79 Luật đất đai năm 1993; Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 165; Điều 158, Điều 157, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 12, Điều 26, Điều 48 NQ 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, Điều 27 Pháp lệnh số:10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:
Không chấp nhận
yêu cầu của anh Nguyễn Văn Đ và anh Nguyễn Văn M về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn N trả anh thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² (nay là thửa số 180 tờ bản đồ số 01 diện tích là 193m²) tại xứ đồng H, thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang và yêu cầu đòi anh N trả 5.400.000 đồng tiền khoán sản phẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, quyền thi hành án, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22/9/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo. Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ trình bày: Đề nghị Tòa sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Yêu cầu ông N trả lại thửa đất số 80 tờ bản đồ số 01, trả lại số tiền khoán ruộng cho ông Đ tại thửa số 50 cụ thể là 5.400.000 đồng.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo của ông Đ.
Trong thời gian tạm ngừng phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ có cung cấp Biên bản làm việc ngày 25/6/2024 với lãnh đạo UBND xã T và một số cán bộ chuyên môn của xã, một số người đại diện trong ban dồn điền đổi thửa năm 2005. Trong buổi làm việc, ông Nguyễn Văn C đại diện ban dồn điền đổi thửa cho biết sau quá trình dồn điền đổi thửa năm 2005, gia đình ông Đ và gia đình ông N đã nhận đầy đủ diện tích đất và không có ý kiến gì. Thời điểm năm 2011-2012, thôn đã điều chỉnh đầy đủ diện tích thừa, thiếu cho các gia đình trong thôn sau khi kiểm tra lại.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thư ký, HĐXX đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 112/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa. Ông Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn N3, anh Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị L5, bà Nguyễn Thị L6, ông Nguyễn Văn L7, UBND xã T là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2]. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ:
Ông Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Văn M đều xác định năm 1989 gia đình các ông có đổi thửa ruộng thửa số 50, tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² tại xứ đồng H thôn Đ nay là thôn Đ. Nguồn gốc thửa ruộng là do bố các ông là ông M2 đã khai hoang phục hóa sau đó những năm 1985 hoặc 1986 gia đình do ông M2 làm chủ hộ đã đổi cho gia đình ông N5 bố của anh N là chủ hộ. Gia đình ông N5 sử dụng thửa ruộng đang tranh chấp còn gia đình ông Đ, ông M do ông M2 chủ hộ sử dụng thửa ruộng 6 thước chân 2 lúa ở xứ đồng Bờ Chó của gia đình ông N5, theo thỏa thuận khi nào hai bên có nhu cầu thì đổi lại và gia đình ông N5 đã đăng ký kê khai thửa đất trên với UBND xã T và sử dụng từ đó cho đến nay. Đến năm 1989 thực hiện chủ trương của thôn, xã cho nên thôn Đường S đã thu hồi số ruộng trên theo sổ sách và giao cho các hộ nhưng thửa số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m² gia đình ông N5 vẫn sử dụng sau đó thực hiện điều chỉnh ruộng đất theo luật đất đai năm 1993 và dồn điền đổi thửa năm 2005 thì thửa số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m² không thuộc đối tượng dồn điền đổi thửa. Ông Đ, ông M xác định thửa ruộng này có trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ruộng gia đình ông nhưng không ghi số thửa cụ thể. Chính quyền địa phương xác định thửa số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m² hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Đ, ông M hay gia đình anh N hơn nữa ông Đ, ông M đưa ra lời thừa nhận của ông N5 có việc đổi ruộng giữa ông N5 và ông M2 nhưng việc đổi ruộng giữa hai ông từ trước khi có luật đất đai năm 1993 (đổi từ năm 1987) lúc đó đang thực hiên chủ chương khoán ruộng đến hộ sản xuất nông nghiệp theo Chỉ thị 100-CT/TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động cho nên ruộng vẫn là của tập thể hợp tác xã. Ngoài ra ông Đ, ông M còn xác định sau đó gia đình được chia ruộng thửa số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m² nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Theo bản đồ địa chính và “sổ thuế đất vườn Đường Sơn năm 1987” do UBND xã T lưu giữ và cung cấp thì thửa số 50 tờ bản đồ số 7 thuộc đất vườn của gia đình ông N5. Tại biên bản làm việc tại trụ sở UBND xã T ngày 25/6/2024, ông Nguyễn Văn C đại diện Ban dồn điền đổi thửa trình bày quá trình dồn điền đổn thửa năm 2005, gia đình ông N và ông Đ đã nhận đầy đủ diện tích đất và không có ý kiến gì. Thời điểm năm 2011-2012, thôn đã điều chỉnh đầy đủ diện tích thừa thiếu cho các gia đình trong thôn sau khi kiểm tra lại.
Như vậy, không có căn cứ để xác định thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² tại xứ đồng H thôn Đ (nay là thôn Đ), xã T là của gia đình ông Đ và gia đình ông M. Ông Đ và ông M yêu cầu ông N trả thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² là không có căn cứ để chấp nhận.
Xét yêu cầu của ông Đ về việc yêu cầu anh N trả anh tiền đấu thầu ruộng từ năm 2005 cho đến nay là 5.400.000 đồng thì thấy: Do thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m² không thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Đ và ông N. Đồng thời giữa ông Đ và ông N không có thỏa thuận gì về việc khoán thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192m² nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của ông Đ và ông M.
Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Văn M về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn N trả thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7 diện tích 192 m² (nay là thửa số 180 tờ bản đồ số 01 diện tích là 193 m²) tại xứ đồng H, thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang và yêu cầu trả 5.400.000 đồng tiền khoán sản phẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.
Do đó, ông Nguyễn Văn Đ kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ và không được chấp nhận như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2023/DS- ST ngày 15/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Ông Nguyễn văn Đ2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002929 ngày 22/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chyền |
Bản án số 143/2024/DS-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 143/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
