Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 143/2025/HSST

Ngày: 30/06/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Ông Trần Viết Ty

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Thanh Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 và các quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:

Vũ Văn P; giới tính: Nam

Sinh ngày: 20 tháng 10 năm 1971 tại: huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo.

Nơi ở: thôn N, xã T, huyện N, Thanh Hóa;

Trình độ học vấn: 05/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Họ tên bố: Vũ Văn T, sinh năm 1944;

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1942.

Gia đình có 9 anh chị em, bị cáo là con thứ 4.

Vợ: Đỗ Thị D1, sinh năm 1976;

Con: Có 5 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo P bị bắt theo lệnh bắt bị cáo để tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến ngày 25/01/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; ( có mặt)

+ Người bào chữa cho bị cáo Vũ Văn P;

Luật sư Lê Thị H, Văn phòng L3 – Đoàn Luật sư tỉnh T

Địa chỉ: Số I N, Phường T, Thành phố T, Thanh Hóa; (có mặt)

Bị Hại

+ Anh Nguyễn Đức H1, sinh năm 1995

Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện N, Thanh Hóa; ( có mặt)

2

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Luật sư Lê Văn H2;

Văn phòng Luật sư Thiên Bình Đoàn Luật sư tỉnh T

Địa chỉ: Lô F khu A, khu đô thị B Đại Lộ L, Phường Đ, Thành phố T, Thanh Hóa ( có mặt)

Người làm chứng

Bà Đỗ Thị D1; sinh năm 1976 ( có mặt)

Anh Vũ Văn Q; (vắng mặt)

Ông Nguyễn Đức L; sinh năm 1968 ( có mặt)

Anh Nguyễn Đức D2; Sinh năm 2002( có mặt)

Cùng địa chỉ: thôn N, xã T, huyện N, Thanh Hóa;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình ông Vũ Văn P, sinh năm 1971 và gia đình ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1968, cùng ở thôn N, xã T, huyện N đang có tranh chấp ruộng cói (ruộng cói này do nhà ông P chăm bón và nằm sát bên cạnh đất nhà ông P).

Khoảng 15h chiều ngày 25/6/2023, nhận được tin gia đình ông P đang thu hoạch cói trên phần ruộng đang tranh chấp ông L bảo Nguyễn Đức H1, sinh năm 1995 (con trai ông L) lấy xe máy chở ông L đến ruộng để ngăn cản gia đình ông P cắt cói. Khi đi, ông L mang theo 01 gậy tre dài 1,25m, đường kính 3cm (dạng cây kích cá); H1 điều khiển xe chở ông L nên không cầm theo hung khí gì. Thấy H1 chở ông L đi thì Nguyễn Đức D2, sinh năm 2002 (con trai ông L) cũng lấy 01 gậy dạng tuýp sắt dài 75cm, đường kính 2,7cm, một đầu đập dẹt điều khiển xe máy đi theo sau.

Khi đến khu vực ruộng cói, thấy Vũ Văn Q, sinh năm 2001 (con trai ông P) đang dùng liềm cắt cói ở dưới ruộng thì ông L nói Q không được cắt cói nữa nhưng Q không nói gì mà cầm liềm đứng nhìn về phía ông L. Ngay lúc này, ông L cầm gậy tre, H1 giật tuýp sắt từ tay D2 rồi cả hai người cùng đi xuống ruộng cói, lại chỗ Q đang đứng và đe dọa, L dùng gậy kích cá đập vào liềm Q đang cầm; Q cầm liềm mổ về phía L - H1 nhưng không trúng ai. L đánh vào tay đang cầm liềm của Q làm cho liềm bị rơi xuống ruộng. H1 cầm lấy liềm rồi đi lên trên hướng vườn nhà ông P; L tiếp tục áp sát rồi dùng tay ghì, đè Q nằm xuống ruộng, đánh Q hai cái vào trán; D2 đứng trên bờ ruộng nhặt gạch ném về phía Q. Thấy Q bị đánh, bà Đỗ Thị D1, sinh năm 1976 (vợ của ông P) đứng ở vườn la lên; Nghe tiếng kêu la của bà D1, ông P đang ở trong nhà liền lấy 01 gậy bằng luồng dài 93cm, rộng 3cm, dày 1cm rồi chạy ra khu vực ruộng cói. Lúc này, D2 nhặt lấy 01 gậy luồng cầm ở tay; còn H1 đang cầm tuýp sắt và liềm đi đến chỗ ông P thách thức; H1 đưa liềm cho D2 rồi dùng tuýp sắt đánh ông P thì ông P dùng gậy luồng đánh lại. Cùng lúc đó, thấy bà D1 đang nói to tiếng thì D2 dùng gậy luồng vụt vào người làm cho bà D1 ngã xuống

3

đất; sau đó, Dương cầm gậy quay sang cùng với H1 đuổi đánh ông P. Bị H1 và D2 đuổi đánh, ông P nhặt thêm 01 gậy luồng dài 85cm, rộng 5cm để chống đỡ nhưng lại bị đánh rơi mất 02 cây gậy nên ông P chạy vào phía sau nhà lấy 01 thanh gỗ dài 91cm, rộng 8,5cm, dày 3,5cm rồi quay lại vườn gần ruộng cói. Lúc này, H1 và D2 quay lại hướng ruộng cói thì ông L cũng từ dưới ruộng cói cầm gậy tre đi lên bờ; Q cũng từ dưới ruộng cói đi lên bờ, trên tay cầm theo ½ viên gạch. Lúc này, bà D1 đang ngồi dưới đất nói to tiếng thì ông L vung tay tát vào miệng bà D1. Thấy mẹ bị đánh, Q cầm ½ viên gạch chạy lại đập một phát trúng phía sau đầu ông L. Thấy vậy H1 - Dương cầm gậy đuổi đánh Q nên Q bỏ chạy; H1 cầm tuýp sắt quay sang đánh ông P. Bị H1 đánh, ông P dùng gậy gỗ đánh lại thì trúng vào đầu của H1 làm H1 ngã xuống đất. Ngay lập tức, ông L cầm gậy tre đứng phía sau đập một phát vào đầu ông P; còn Dương cầm gậy luồng tiếp tục đuổi đánh Q nhưng không lùa được. Ông P và bà D1 được người nhà đưa đi bệnh viện cấp cứu; còn L, H1 đi về nhà, sau đó thấy H1 bị chảy máu mũi thì gia đình mới đưa L, H1 đi bệnh viện cấp cứu. Sự việc trên diễn ra trong khoảng thời gian 15 đến 20 phút, thu hút đông người đến xem chứng kiến sự việc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Thương tích của những người liên quan:

Đối với Vũ Văn P: tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 17h00' ngày 26/6/2023 tại BVĐK tỉnh T ông P bị: 01 vết bầm tím kích thước (2x2)cm tại vị trí tai bên trái; 01 vết sưng nề kích thước (4x3)cm tại vị trí mặt trong khuỷu tay bên phải; 01 vết sưng nề kích thước (6x4)cm tại vị trí mặt ngoài cẳng tay bên trái. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1389/KLTTCT-PYTH ngày 14/8/2023 của Trung tâm P3: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Văn P tại thời điểm giám định là 0%.

Đối với bà Đỗ Thị D1: tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 21h30' ngày 26/6/2023 tại BVĐK tỉnh T bà D1 bị: 01 vết thương sưng nề kích thước (2x2)cm tại vị trí mặt ngoài khuỷu tay phải; 01 vết thương bầm tím kích thước (2x2)cm tại vị trí mặt trong cẳng tay tay phải; 01 vết thương bầm tím kích thước (3x1)cm tại vị trí hông bên phải. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1387/KLTTCT-PYTH ngày 10/8/2023 của Trung tâm P3: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Thị D1 tại thời điểm giám định là 0%.

Đối với Vũ Văn Q: Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 11h05' ngày 26/6/2023 tại thôn N, xã T, huyện N bị: 01 vết xước da, tấy đỏ tại trán (lệch phải), kích thước (2,5x0,2)cm; 01 vết xước da, tấy đỏ tại trán (lệch trái), kích thước (2x0,1)cm; 01 vết sưng nề tại đốt 2 ngón trỏ bàn tay phải kích thước (1,5x1,5)cm; 01 vết xước da, tấy đỏ tại lưng, kích thước (4x0,5)cm. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1322/KLTTCT-PYTH ngày 31/7/2023

4

của Trung tâm P3: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Văn Q tại thời điểm giám định là 0%.

Đối với Nguyễn Đức L: Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 12h30' ngày 26/6/2023 tại BVĐK tỉnh T: trên đầu ông L đang được băng bó vết thương phía sau đỉnh đầu, không thể xem xét trực tiếp tình trạng thương tích của 01 vết thương. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1375/KLTTCT-PYTH ngày 08/8/2023 của Trung tâm P3: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức L tại thời điểm giám định là 01%.

Đối với Nguyễn Đức H1: Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể lập hồi 19h00' ngày 26/6/2023 tại BVĐK tỉnh T H1 bị: 01 vết thương sưng nề kích thước (10x10)cm tại khu vực vùng đầu bên phải ngay phía trên tai bên phải. Bệnh án ngoại khoa BVĐK tỉnh T: Chẩn đoán lúc ra viện: Bệnh chính Chảy máu trên màng cứng; Mô tả chi tiết: Máu tụ ngoài màng cứng thái dương phải, vỡ xương thái dương phải, dập não thái dương phải, sưng nề màng nhĩ phải; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1377/KLTTCT-PYTH ngày 15/8/2023 của Trung tâm P3: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức H1 tại thời điểm giám định là 32%.

Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường được xác định tại khu vực vườn của nhà ông Vũ Văn P, sinh năm 1971, ở thôn N, xã T, huyện N. Phía Đông giáp đường đê Quốc gia; phía Bắc đường đê hướng đi cầu Ngọc L1; phía Nam đường đê hướng đi cống ông L2. Phía Nam và phía Tây nhà ông P lần lượt giáp nhà anh Nguyễn Đức N và nhà ông Vũ Văn H3.

Đường đi vào ngõ bê tông nhà ông P là đường đất thông với đường đê; phía Đông hướng đi đường Đ; phía Nam hướng đi UBND xã T. Tại nhà ông P, từ ngõ đi vào là sân phía trước; phía Tây sân là khu vực giếng; phía Bắc sân là khu nhà ở của gia đình ông P; phía Bắc và phía Đông khu nhà ở là vườn; phía Bắc và phía Đông vườn (giáp đường Đ) là khu vực ruộng trồng cói. Vườn nhà ông P có đường hướng lên Đ.

Tại khu vực vườn và ruộng cói phía Đông nhà ở gia đình ông P được xác định là nơi xảy ra vụ việc. Quá trình khám nghiệm hiện trường ghi nhận: Tại ruộng cói phía Đông nhà ở ông P, giáp khu vực vườn có một phần diện tích cói đang được thu hoạch, thân cói đã được thu hoạch còn tươi xếp thành bó để trên vườn. Ngoài ra, không phát hiện thêm dấu vết, đồ vật khả nghi nào khác. Tại khu vực hiện trường và khu vực xung quanh không có camera quay về khu vực hiện trường vụ việc.

Kết quả trưng cầu giám định: Khi xảy ra vụ việc, cháu Vũ Thị N1, sinh năm 2013, là con gái của Vũ Văn P đã dùng điện thoại di động ghi lại diễn biến vụ việc và giao nộp đoạn video cho Cơ quan CSĐT Công an huyện N. Nội dung đoạn video được mô tả như diễn biến của vụ án đã nêu trên. Ngày 17/5/2024, bà Đỗ Thị D1

5

giao nộp 01 USB nhãn hiệu KIKSEMI dung lượng 32GB chứa 03 tệp video ghi lại diễn biến vụ việc xô sát đánh nhau giữa gia đình ông Vũ Văn P với gia đình ông Nguyễn Đức L ngày 25/6/2023.

Quyết định trưng cầu giám định số 1261/QĐ-VPCQCSĐT ngày 24/5/2024 của Cơ quan CSĐT trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công san tỉnh T giám định và trích xuất hình ảnh từ video. Tại bản kết luận giám định số 2303/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung trong 03 tệp video của 01 USB gửi giám định; Trích xuất một số hình ảnh trong các tệp video gửi giám định - thể hiện trong Phụ lục.

Vật chứng thu giữ: 01 thanh luồng dài 87cm, rộng 5cm, dày 2cm, một đầu cắt bằng, một đầu dát mỏng; 01 thanh luồng dài 93cm, rộng 3cm, dài 1cm, hai đầu cắt bằng; 01 thanh kim loại rỗng ruột dài 75cm, thiết diện tròn đường kính 2,7cm, một đầu bị đập bẹp 6,5cm; 01 liềm cắt cói dài 50cm có cán bằng gỗ dài 14cm, chỗ rộng nhất của lưỡi liềm là 8cm; 01 gậy tre dài 125cm, tiết diện tròn đường kính 3cm, một đầu gậy quấn băng dính đen, dán dây điện màu vàng vào thân gậy, phần dây điện thừa ra ngoài dài 126cm; ½ viên gạch chỉ loại hai lỗ màu đỏ, kích thước (10x10x5)cm và 01 thanh gỗ dài 91cm, rộng 8,5cm, dày 3,5cm, hai đầu được cắt mỏng ½ độ dày trên diện kích thước (8,5x8,5)cm;

Về phần dân sự: Gia đình ông Vũ Văn P đã tự nguyện bồi thường 100.000.000₫ được giao nộp tại cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Quá trình điều tra vụ án Vũ Văn P, Nguyễn Đức L, Nguyễn Đức H1, Nguyễn Đức D2 thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà CQCSĐT đã thu thập được.

Ngày 16 tháng 11 năm 2024 TAND tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định trưng cầu giám định tâm thần số 01/2024/QĐ-TCGĐ đối với bị cáo Vũ Văn P do xét thấy cần thiết giám định tình trạng tâm thần đối với bị cáo Vũ Văn P là cần thiết cho việc xét xử vụ án.

Ngày 03 tháng 01 năm 2025 TAND tỉnh Thanh hóa đã ra quyết định tạm đình chỉ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 161/2024/TLST-HS Ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Văn P; sinh ngày 20/10/1971; Trú tại: thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Bị VKSND tỉnh Thanh Hóa truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS số 01/2025/HSST để trưng trưng cầu giám định do có công văn của V phân viện Bắc miền trung về việc tiếp nhận hồ sơ trưng cầu giám định đối với bị cáo Vũ Văn P.

Sau khi nhận được kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 04/KLGD ngày 15 tháng 4 năm 2025 của V tâm thần phân viện Bắc miền T.

Ngày 15 tháng 04 năm 2025 TAND tỉnh Thanh hóa đã ra quyết định phục hồi vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 161/2024/TLST-HS Ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Văn P; sinh ngày 20/10/1971; Trú tại: thôn N, xã T, huyện N, tỉnh

6

Thanh Hóa. Bị VKSND tỉnh Thanh Hóa truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS.

* Đại diện của VKS tỉnh T phát biểu quan điểm:

Giữ nguyên cáo trạng số 91/CT-VKS-P2 ngày 14/8/2024 Của VKSND tỉnh Thanh Hóa. Truy tố bị cáo Vũ Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo định tại điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS.

Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Vũ Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, e, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 BLHS;

Đề Nghị HĐXX xử phạt:

Bị cáo Vũ Văn P 36 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị HĐXX Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng:

  • + 01 thanh gỗ dài 91 cm, rộng 8.5 cm, dày 3,5 cm hai đầu được cắt mỏng ½ độ dày một diện tích kích thước (8,5x8,5)cm.

Các vật chứng được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng số 194/2024/TV-CTHADS ngày 20/8/2024.

Về bồi thường ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại số tiền 120.000.000₫

Ngoài ra còn đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo Vũ Văn P

Không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh và quy định của pháp luật đối với bị cáo Vũ Văn P.

Luật sư chỉ phân tích các tình tiết giảm nhẹ bị cáo Vũ Văn P được hưởng.

  • + Thành khẩn khai báo
  • + Tự nguyện bồi thường thiệt hại
  • + Thực hiện hành vi phạm tội do bị kích động về tinh thần
  • + Bị cáo hạn chế khả năng nhận thức

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Bị cáo Nguyễn Văn P1 trước khi phạm tội có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Có nơi cư trú rõ ràng, nhất thời phạm tội.

Đề nghị HĐXX áp dụng điều 65 BLHS để quyết định cho bị cáo được hưởng án treo.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại

7

- Tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về việc bị cáo Vũ Văn P phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức H1 số tiền 120.000.000₫ việc thỏa thuận giữa 2 bên là tự nguyện, đề nghị HĐXX ghi nhận.

Về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX xét xử nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.

* Bị hại: Không có ý kiến tranh luận. Đồng ý với ý kiến tranh luận của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Trong lời nói sau cùng:

Bị cáo Vũ Văn P ân hận trước việc vi phạm pháp luật của mình đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an tỉnh T, điều tra viên, viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Tại phiên tòa, luật sư của bị cáo, luật sư của bị hại người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng viện kiểm sát truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, về lời khai của bị hại, những người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng của vụ án đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Xuất phát từ việc tranh chấp ruộng cói nên khoảng 15h ngày 25/6/2023 tại khu vực thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Đức L, Nguyễn Đức H1, Nguyễn Đức D2 đã kéo nhau đến nhà ông Vũ Văn P mang theo hung khí để ngăn cản việc gia đình ông P thu hoạch cói dẫn đến việc xô sát đánh lẫn nhau. Khi đến khu vực ruộng cói, thấy Q đang dùng liêm cắt cói dưới ruộng thì L cầm gậy tre, H1 giật tuýp sắt từ tay D2 rồi cả hai cùng đi xuống ruộng cói lại chỗ Q đang đứng, L dùng gậy kích cá đập vào liềm Q đang cầm, đánh vào tay đang cầm liềm của Q làm cho liềm bị rơi xuống ruộng. H1 cầm lấy liềm rồi đi lên trên hướng vườn nhà ông P; L tiếp tục áp sát rồi dùng tay ghì, đề Q nằm xuồng ruộng, đánh hai cái vào trán Q; D2 đứng trên bờ ruộng nhặt gạch ném về phía Q. Thấy Q bị đánh, bà D1 đứng ở vườn la lên; Nghe tiếng kêu là của bà D1, P đang ở trong nhà liền lấy 01 gậy bằng luồng chạy ra khu vực ruộng cói. Lúc này, D2 nhặt lấy 01 gậy luồng cầm ở tay; H1 đang cầm tuýp sắt và liềm đi đến chỗ P thách thức; H1 đưa liềm cho D2 rồi dùng tuýp sắt đánh ông P thì ông P dùng gậy luồng đánh lại. Cùng lúc đó, thấy bà D1 đang nói to

8

tiếng thì D2 dùng gậy luồng vụt vào người làm cho bà D1 ngã xuống đất; Dương cầm gậy quay sang cùng với H1 đuổi đánh P. Bị H1 và D2 đuổi đánh, P nhặt thêm 01 gậy luồng nữa để chống đỡ nhưng lại bị đánh rơi mất 02 cây gậy nên P chạy vào phía sau nhà lấy 01 thanh gỗ rồi quay lại vườn gần ruộng cói.

Lúc này, H1 và D2 quay lại hướng ruộng cói thì ông L cũng từ dưới ruộng cói cầm gậy tre đi lên vườn; Q cũng từ dưới ruộng cói đi lên, trên tay cầm theo ½ viên gạch. Thấy bà D1 đang ngồi dưới đất nói to tiếng thì L vung tay tát vào miệng bà D1. Thấy mẹ bị đánh, Q cầm ½ viên gạch chạy lại đập một phát vào phía sau đầu ông L làm tổn hại 1% sức khỏe. Thấy vậy H1 - Dương cầm gậy đuổi đánh Q nên Q bỏ chạy; H1 cầm tuýp sắt quay sang đánh ông P. Bị H1 đánh, ông P dùng gậy gỗ đánh lại thì trúng vào đầu của H1 làm H1 ngã xuống đất, tổn hại 32% sức khỏe. Ngay lập tức, ông L cầm gậy tre đứng phía sau đập một phát vào đầu ông P; Dương cầm gậy luồng tiếp tục đuổi đánh Q nhưng được người dân can ngăn nên hai bên không đuổi đánh nhau nữa. Sự việc trên diễn ra trong khoảng thời gian 15 đến 20 phút, thu hút đông người đến xem, chứng kiến sự việc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Đức L, Nguyễn Đức H1, Nguyễn Đức D2 đã bị TAND Tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội gây rối trật tự công cộng. Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 BLHS tại bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2025/HSST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Hành vi của Nguyễn Văn P1 đã phạm vào tội “cố ý gây thương tích” Tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 3 điều 134 BLHS. Do đó, cáo trạng của viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Vũ Văn P về tội cố ý gây thương tích quy định tại điểm c khoản 3 điều 134 BLHS Là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh đối với bị cáo bằng pháp luật hình sự để trừng trị, răn đe, phòng ngừa chung và giáo dục cải tạo đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ tăng nặng TNHS và nhân thân của bị cáo

4.1 Về tình tiết giảm nhẹ:

- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải. Là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.

-Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 04/KLGD ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Viện pháp y Tâm thần phân viện Bắc miền V kết luận: Tại Thời điểm trước và sau khi thực hiện hành vi phạm tội (ngày 23 tháng 6 năm 2023) đến trước ngày 04/3/2024, bị cáo Vũ Văn P chưa có biểu hiện về bệnh tâm thần tại các thời điểm này, Vũ Văn P đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

9

+ Từ thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội (từ sau ngày 4/3/2024 đến ngày 26/8/2024) bị cáo Vũ Văn P bị bệnh: rối loạn thần cấp đa dạng với các triệu chứng của Tâm thần phân liệt, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992( ICD 10) có mã bệnh là F23.1 (giai đoạn bệnh cấp tính). Tại thời điểm này Vũ Văn P mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Tại thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội (từ sau ngày 26/8/2024) và thời điểm giám định bị cáo Vũ Văn P bị bệnh đối rối loạn thần cấp đa dạng với các triệu chứng Tâm thần phân liệt. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10) có mã bệnh là F23.1 (giai đoạn bệnh thuyên giảm). Các thời điểm này Vũ Văn P hạn chế khả năng nhận thức và điều phối hành vi. Do đó bị cáo Vũ Văn P được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm q Khoản 1 Điều 51 BLHS.

- Bị cáo Vũ Văn P thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp bị cáo bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điểm e, Khoản 1, Điều 51 BLHS.

Trong giai đonạ chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, nên được áp dung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.

4.2 Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Vũ Văn P không bị áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS.

4.3 Về nhân thân:

Trước khi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa vi phạm pháp luật lần nào.

[5] Căn cứ vào Điểm c Khoản 3 điều 134 BLHS. Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo Vũ Văn P,

Hội đồng xét xử xét thấy

Bị cáo Vũ Văn P trước khi phạm tội có nhân thân tốt, ngoài phạm tội lần này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú.

Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS ( 04 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, e, q, s) và các tình tiết giảm nhẹ quy định định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.

Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án tro cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa về việc cho bị cáo Vũ Văn P được hưởng án tro là phù hợp và được chấp nhận.

10

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Về bồi thường dân sự, tại phiên tòa bị hại Nguyễn Đức H1 thỏa thuận với bị cáo Vũ Văn P về việc bị cáo Vũ Văn P phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức H1 số tiền 120.000.000đ ( Một trăm hai mươi triệu đồng) về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Xét thấy: Thỏa thuận bồi thường thiệt hại về sức khỏe giữa bị cáo và bị hại là tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận trên. Bị cáo Vũ Văn P2 đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức H1 được 100.000.000đ ( Nộp tại cục thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa). Bị cáo Vũ Văn P tiếp tục phải bồi thường cho bị Hại Nguyễn Đức H1 số tiền 20.000.000đ ( Hai mươi triệu đồng)

[6] Về xử lý vật chứng, các vật chứng khác của vụ án đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 24/01/2025của tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đối với vật chứng là 01 thanh gỗ dài 91 cm, rộng 8.5 cm, dày 3,5 cm hai đầu được cắt mỏng ½ độ dày một diện tích kích thước(8,5x8,5)cm. Là công cụ phương thức bị cáo Vũ Văn P gây thương tích cho bị hại Nguyễn Đức H1 là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 4 7 BLHS, các điểm a, c, khoản 2 điều 106 BLTTDS

[7] về án phí, bị cáo Vũ Văn P phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; Các điểm b, e, q, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 BLHS.

Tuyên Bố: Bị cáo Vũ Văn P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt:

Bị cáo Vũ Văn P 03 (ba) Năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) Năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Vũ Văn P cho UBND xã T, huyện N, Thanh Hóa quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi

11

phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

* Về Trách nhiệm dân sự:

Áp dụng: Điều 48 BLHS, Các điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590 BLDS.

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Vũ Văn P và bị Hại Nguyễn Đức H1; bị cáo Vũ Văn P phải bồi thường cho anh Nguyễn Đức H1 tổng số tiền là: 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Ghi nhận bị cáo Vũ Văn P đã bồi thường cho anh Nguyễn Đức H1 số tiền 100.000.000đ. ( Một trăm triệu đồng)

Bị cáo Vũ Văn P tiếp tục phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Đức H1 số tiền 20.000.000 đồng. ( Hai mươi triệu đồng)

Tiếp tục lưu giữ số tiền 100.000.000đ tại cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa tại các phiều thu: Biên lai thu tiền số 0003372 ngày 11/6/2025 của cục THADS tỉnh T và Biên lai thu tiền số 0003424 ngày 27/6/2025 của cục THADS tỉnh T để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày anh Nguyễn Đức H1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

* Xử lý vật chứng:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS. Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu, tiêu hủy 01(một) thanh gỗ dài 91 cm, rộng 8.5 cm, dày 3,5 cm.

Các vật chứng của vụ án được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng số 194/2024/TV-CTHADS ngày 20/8/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (PC01) và cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

* Về án phí: Áp dụng Điều 2, Khoản 136, BLTTHS. Các điểm a, c khoản 1, Điều 23; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH Ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo Vũ Văn P bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 1.000.000đ (Một triệu đồng) án phí DSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

12

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thanh Hóa.
  • - Bị cáo; Bị Hại;
  • - UBND xã Trường Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/HSST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 143/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger