1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7-HÀ NỘI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 143/2025/HS-ST
Ngày 30/10/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hằng |
| Các Hội thẩm nhân dân | : Ông Nguyễn Duy Kiên |
| Ông Nguyễn Văn Vĩ |
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Đắc Minh-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7-Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Mai Xiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1988 tại Hà Nội.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn H, xã S, thành phố Hà Nội); nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá : Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Q; có vợ là: Nguyễn Thị T (Ú) và 02 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: -Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2017/HS-ST ngày 07/6/2017, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án (bản án đã được xóa).
-Bản án hình sự sơ thẩm số 165/2019/HS-ST ngày 25/11/2019, Tòa án
nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/5/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù (bản án đã được xóa).
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại:
-Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983, vắng mặt
Địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội).
-Chị Vũ Thị D, sinh năm 1988, vắng mặt
Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn M, xã S, thành phố Hà Nội).
-Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1957, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn P, xã S, thành phố Hà Nội).
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-Ông Kiều Văn T1, sinh năm 1968, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Y, xã T, tỉnh Bắc Ninh).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Cụ thể, H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp như sau:
Vụ 1: Khoảng 09h ngày 22/3/2025, H đi xe đạp đến khu vực thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là xã Đ, thành phố Hà Nội), H phát hiện nhà chị Nguyễn Thị M có 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu DK Bike BKS 29MĐ2-661.16 dựng ở sân, xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa xe, H quan sát không thấy có người. H vào trong sân nhà chị M để lại chiếc xe đạp của H lại rồi H lấy chiếc xe đạp điện của chị M. H điểu khiển xe đến cửa hàng X ở thôn Y, xã T, tỉnh Bắc Ninh bán cho ông Kiều Văn T1 với giá 1.800.000đ. Khi bán xe H không nói cho ông T1 biết là tài sản do trộm cắp mà có.
Vụ 2: Sau khi bán được chiếc xe đạp điện trên, H đi bộ từ cửa hàng X đến điểm xe bus thuộc xã Đ, thành phố Hà Nội bắt xe bus về khu vực thôn P, xã S,
thành phố Hà Nội. Đến khoảng 11h ngày 22/3/2025, H phát hiện nhà ông Nguyễn Văn C có 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Mangaki, không biển kiểm soát, ổ khóa xe có cắm chìa khóa, không có người trông coi. H đi vào lấy trộm chiếc xe và điều khiển xe đến cửa hàng xe Thục H2 bán xe cho ông T1 được số tiền 1.300.000đ. Khi bán xe H không nói cho ông T1 biết xe do H trộm cắp mà có.
Tổng số tiền H bán hai chiếc xe đạp điện trên được 3.100.000d, số tiền này H tiêu sài cá nhân hết.
Vụ 3: Khoảng 09h ngày 23/3/2025, H bắt xe bus từ nhà đến ngã tư giao giữa đường Đ-N-Quốc lộ C thuộc xã S, thành phố Hà Nội để tìm nhà dân sơ hở trộm cắp tài sản. H đi bộ đến khu vực thôn L, xã S, thành phố Hà Nội phát hiện trước cửa nhà chị Đỗ Thị Hường T2 có 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Galaxy của cháu Đỗ Vân N đến nhà chị T2 chơi. H vào lấy trộm chiếc xe và đạp xe đến cửa hàng X để bán thì bị Công an xã K, huyện S (nay là Công an xã Đ) kiểm tra phát hiện và đưa về trụ sở Công an làm việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 134/KL-HĐ ngày 07/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận:
- 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu DK Bike, có lồng, số khung DFUMJSG00639, số máy 50W180501161, số loại 133S dung tích 1060W có trị giá 5.000.000đ.
- 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Mangaki, không có lồng trị giá 1.500.000đ.
- 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Galaxy, không lồng, vành nan hoa có trị giá 2.000.000đ.
Tổng trị giá tài sản H trộm cắp là 8.500.000đ.
Đối với ông Kiều Văn T1 là người mua xe của H: Quá trình điều tra làm rõ, khi mua xe của H do H không nói nguồn gốc xe nên ông T1 không biết 02 xe đạp điện mà ông T1 mua là do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án.
Quá trình điều tra xác định bị cáo H có bệnh án tâm thần năm 2022 với chẩn đoán bệnh Động kinh-G40 và được cấp phát thuốc điều trị ngoại trú hàng tháng tại Trung tâm y tế huyện S. Năm 2017 và 2019 H bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản”, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tâm thần đối với H tại V đều kết luận “ Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Nguyễn Văn H bị bệnh động kinh toàn thể cơn lớn. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm
1992 bệnh có mã số G40.6, H đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Trên cơ sở hồ sơ thu thập được, Cơ quan điều tra đã gửi hồ sơ thẩm định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bị cáo H đến Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố H để thẩm định theo quy định. Ngày 29/8/2025, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố H có Công văn trao đổi gửi Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội (Phòng 2). Ngày 09/9/2025, Phòng 2-Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có Công văn xác định: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thấy không có nghi ngờ về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo H nên thống nhất với quan điểm của Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H về việc không cần thiết phải trưng cầu giám định tâm thần đối với bị cáo H.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Người bị hại là chị Nguyễn Thị M trình bày tại BL 54-59: Khoảng 10h ngày 22/3/2025 gia đình chị bị mất trộm 01 xe đạp điện nhãn hiệu DK Bike BKS 29MĐ2-661.16 để ở sân, xe chị vẫn để chìa khóa xe cắm ở ổ khóa. Ngày 07/6/2025, chị đã nhận lại được chiếc xe bị mất do Cơ quan điều tra trao trả nên chị không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.
Người bị hại là ông Nguyễn Văn C trình bày tại BL 69-75: Khoảng 13h ngày 22/3/2025, gia đình ông bị mất trộm 01 xe đạp điện nhãn hiệu Mangaki, xe đạp gia đình ông để ở sân, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa. Ngày 02/6/2025, ông đã nhận lại được chiếc xe bị mất do Cơ quan điều tra trao trả nên ông không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.
Người bị hại là chị Vũ Thị D trình bày tại BL 89-92: Khoảng tháng 6/2024, chị có mua 01 xe đạp nhãn hiệu Galaxy cho con gái chị là cháu Đỗ Vân N để cháu đi học. Ngày 23/3/2024, cháu có xin phép chị đi xe đạp đến nhà bạn ở thôn L, xã S chơi. Khoảng 10h cùng ngày, cháu có gọi điện về cho chị nói đã bị mất trộm xe. Ngày 08/7/2025, chị đã nhận lại được chiếc xe bị mất do Cơ quan điều tra trao trả nên chị không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Kiều Văn T1 trình bày tại BL 113-116: Ông có mở cửa hàng kinh doanh mua bán, sửa chữa xe máy điện, xe đạp điện, xe đạp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Phòng Tài chính kế hoạch UBND huyện Y cấp ngày 18/8/2016. Ngày 22/3/2025, ông có mua 02 chiếc xe đạp điện của Nguyễn Văn H với tổng số tiền là 3.100.000đ. Khi mua
xe, H không nói rõ nguồn gốc tài sản nên ông không biết là tài sản do H trộm cắp mà có. Ngày 24/3/2025 ông được Công an xã K, thành phố Hà Nội thông báo ông mới được. Ông đã nộp lại 02 chiếc xe đạp điện mà ông đã mua của H cho cơ quan Công an để trả lại cho người bị hại. Đối với số tiền ông đã bỏ ra mua xe đạp của H, ông không yêu cầu H phải bồi thường.
Bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 30/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự .
- Xử phạt: Nguyễn Văn H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về bồi thường dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Tịch thu sung công tang vật đã thu giữ. Truy thu của bị cáo H số tiền 3.100.000đ để sung quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong khoảng thời gian từ ngày 22/3/2025 đến ngày 23/3/2025, Nguyễn Văn H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn xã Đ và xã S, thành phố Hà Nội. Cụ thể:
- Ngày 22/3/2025, tại thôn X, xã Đ, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn H đã có hành vi trộm cắp 01 xe đạp điện nhãn hiệu DK Bike BKS 29MĐ2-661.16 của chị Nguyễn Thị M có trị giá 5.000.000đ.
- Cùng ngày 22/3/2025 tại thôn P, xã S, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp 01 xe đạp điện nhãn hiệu Mangaki của ông Nguyễn Văn C có trị giá 1.500.000đ.
- Ngày 23/3/2025 tại thôn L, xã S, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp 01 xe đạp nhãn hiệu Galaxy của chị Vũ Thị D có trị giá 2.000.000đ.
Tổng trị giá tài sản H chiếm đoạt là 8.500.000đ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Hà Nội truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo có 02 tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, đối với bị cáo thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Quá trình điều tra các bị hại đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không ai có yêu cầu bồi thường dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền đã bỏ ra mua xe trộm cắp của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5]. Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H có chuyển đến Thi hành án dân sự thành phố H tang vật gồm: 01 xe đạp. Xét chiếc xe đạp này là của bị cáo H sử dụng vào việc đi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 3.100.000₫ bị cáo có được từ việc bán 02 xe đạp điện trộm cắp cho ông Kiều Văn T1. Do ông T1 không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường lại nên số tiền này được xác định là tiền do bị cáo phạm tội mà có cần buộc bị cáo phải truy thu sung quỹ Nhà nước.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Văn H mức án 12 (mười hai) tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án phạt tù.
Truy thu của bị cáo số tiền 3.100.000đ để sung quỹ Nhà nước.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe đạp màu đen, tem xe màu cam, có chữ THONG NHAT màu trắng.
(Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội).
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Nơi nhận:
- -VKSNDKV7-HN.
- -THADSTP.HN.
- -Công an TP.Hà Nội.
- -Tòa án Hà Nội.
- -Trại giam Hà Nội.
- -Bị cáo .
- -Đương sự.
- -Lưu HS, VP
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hằng
Bản án số 143/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 143/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huy trộm cắp tài sản
