|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2025/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương
Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu; Ông Nguyễn Nguyễn Nam Long; Bà Hoàng Thị Thoan;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2025 tại điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và điểm cầu thành phần tại Cơ sở 2 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 82/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
Họ tên: T8; Giới tính: Nam; sinh ngày 21 tháng 01 năm 1997, tại: Lào; Số hộ chiếu: PA 0272672; Cấp ngày 21/9/2018; Nơi cấp: Lào; nơi cư trú: N, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào; quốc tịch: Lào; dân tộc: Lào L; tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: Lớp 7 phổ thông trung học Văn hoá Lào; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Mi Xayasane, con bà: Khen Xayyavong. Vợ, con: Chưa có. tiền án, tiền sự: không.
Họ tên: Lembi Kingvannouvong; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 02 năm 1999, tại: Lào; số hộ chiếu: P2316993, cấp ngày 17/12/2019, nơi cấp: Lào; nơi cư trú: N, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào; quốc tịch: Lào; dân tộc: Lào T; tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: Lớp 5 cấp tiểu học văn hóa Lào; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Vanxay Kingvannouvong, con bà: Thumma Kingvannouvong. Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Họ tên: Sisamout Sisomboun; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 30 tháng 12 năm 1996, tại: Lào; số hộ chiếu: PA 0214375, cấp ngày 20/12/2017, nơi cấp: Lào; nơi cư trú: N, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào; quốc tịch: Lào; dân tộc: Lào L; tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: Lớp 5 cấp tiểu học văn hóa Lào; nghề nghiệp: Lái xe; con ông: May Mi; con bà: không rõ; vợ: Phouvieng S, sinh năm: 2002; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm: 2019, nhỏ nhất sinh năm: 2021; tiền án, tiền sự: không.
Họ tên: Sengphet Keosevan; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 25 tháng 3 năm 1996, tại: Lào; số hộ chiếu: P 1821756, cấp ngày 31/8/2016, nơi cấp: Lào; nơi cư trú: Bản M, huyện X, tỉnh Borikhamxay, Lào; quốc tịch: Lào; dân tộc: Phong; tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: Lớp 7 phổ thông trung học Văn hoá Lào; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Phengsi K, sinh năm: 1958, con bà: Mayvan K1, sinh năm: 1975; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không;
Họ tên: Sengphet Keonouvong; tên gọi khác: Ai; giới tính: Nam; sinh ngày 01 tháng 3 năm 1986, tại: Lào; số hộ chiếu: P2921861, cấp ngày 28/02/2024, nơi cấp: Lào; nơi cư trú: Bản N, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào; quốc tịch: Lào; dân tộc: Lào L; tôn giáo: Phật Giáo; trình độ học vấn: Lớp 5 cấp tiểu học Văn hóa Lào; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Maythong Keonouvong, con bà: Somsanit Keonouvong; vợ: Chandy Xaynhaseng; con: có 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Q.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Q. Bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.
- Người bào chữa cho bị cáo Tik X: Ông Võ Sỹ C – Luật sư, thuộc Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh Q, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lembi K3: Bà Nguyễn Thị Khánh T – Luật sư, thuộc Văn phòng luật sư T1 và C, Đoàn luật sư tỉnh Quảng Trị, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Sisamout S1: Ông Võ Ngọc M – Luật sư, thuộc Văn phòng L3, Đoàn luật sư tỉnh Q, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Sengphet K4: Bà Nguyễn Thị L – Luật sư, thuộc Văn phòng L4, Đoàn luật sư tỉnh Q, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Sengphet K2: Bà Nguyễn Thị H – Luật sư, thuộc Văn phòng L5, Đoàn luật sư tỉnh Q, có mặt.
Người phiên dịch cho các bị cáo Tik X, Lembi K3, S, Sengphet K4, Sengphet K2: Ông Trần Ngọc Q; địa chỉ: Số E H, phường N, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/3/2024, Tik X (T), Lembi K3 (L), Sisamout S1 (S), Sengphet K2 (K) và Sengphet K4 (Keosevan) được một người lạ mặt (có đặc điểm tên là Ven P “Ven”, cư trú ở bản N, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào, sử dụng tài khoản facebook “Van Photilard”) liên lạc đặt vấn đề thuê vận chuyển ma túy từ Lào sang Việt Nam để trả tiền công và được T2, L1, S2, K2 và K4 đồng ý. Cùng ngày, K4 rủ Souk S3 (S), Douangsy I (D) cùng đi sang Việt Nam chơi và được S4, D đồng ý.
Tối ngày 28/3/2024, theo yêu cầu và hướng dẫn của V, K4 gặp V và nhận 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Hiace, màu sơn trắng, gắn biển kiểm soát nước ngoài số 6689 (trên xe có 100 gói ma túy, đã được giấu sẵn tại học để đồ tự chế ở trần xe ô tô, K4 không kiểm tra, nhưng biết rõ trên xe có ma tuý mà V thuê vận chuyển), 3.000 USD để chi phí đi đường và 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen dùng để liên lạc. Sau đó, V yêu cầu K4 rủ thêm một số người phụ nữ đi cùng cho giống đoàn đi du lịch, tránh sự phát hiện của lực lượng chức năng, đồng thời Ven thông báo cho K4 biết, cùng đi vận chuyển ma túy có T2, L1, S2 và K2, còn One T3 (O) và Chansamone V1 (C1) sẽ đi cùng sang Việt Nam chơi và yêu cầu K4 đón những người này. Nghe vậy, K4 đồng ý và nói cho V biết mình có rủ thêm S4 và D cùng đi sang Việt Nam chơi. Khoảng 20 giờ cùng ngày, K4 điều khiển xe ô tô trên đến đường số H (thuộc bản V, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào) đón S4, D và O. Tiếp đó, K4 đến đường số A (gần nhà nghỉ B, thuộc bản V, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào) đón C1, rồi quay lại đường số H, đi về hướng Cửa khẩu N, đến bản N, huyện P, tỉnh Borikhamxay, Lào, lần lượt đón L1, S2, K2 và T2.
Khi lên xe, L1, S2, K2 và T2 biết rõ trên xe ô tô có ma tuý mà V thuê vận chuyển. Quá trình vận chuyển ma túy, L1 và S2 thay phiên nhau lái xe, còn T2 sử dụng máy điện thoại trên liên lạc với V và người nhận ma tuý tại Việt Nam để giao ma túy. Keosevan đổi 1.600 USD sang tiền Việt Nam, được khoảng 38.000.000 đồng; đổi 400 USD sang tiền Kíp Lào rồi đưa cho T2 1.000.000 Kíp và 300 USD để chi trả chi phí trong quá trình vận chuyển ma túy. Sau đó, các đối tượng cùng xe ô tô trên nhập cảnh qua Cửa khẩu quốc tế C3, tỉnh Hà Tĩnh vào Việt Nam.
Khi vào Việt Nam, K4 đưa cho T2 30.000.000 đồng tiền Việt Nam, rồi tất cả di chuyển đến thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (nay là phường Đ, tỉnh Quảng Trị) nghỉ lại. Khoảng 09 giờ ngày 30/3/2024, một người đàn ông (không rõ lai lịch), dùng số điện thoại +856293161734 gọi qua ứng dụng WhatsApp tại máy điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen được để sẵn trên xe. Tik nghe máy và trao đổi bằng tiếng Việt Nam, người này yêu cầu T2 đến thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã L, tỉnh Quảng Trị) để giao ma tuý. Tik thấy địa điểm này gần biên giới, dễ bị lực lượng chức năng phát hiện nên bảo L1 quay lại.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, L1 điều khiển xe ô tô chở những người còn lại đi theo đường H, hướng ra tỉnh Quảng Bình để đi về Lào, khi đến địa phận huyện L, tỉnh Quảng Bình (nay là xã L, tỉnh Quảng Trị), một người đàn ông (không rõ lai lịch), sử dụng số điện thoại 02091227xxx gọi qua ứng dụng WhatsApp đến máy điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen gặp và thỏa thuận sẽ gửi địa chỉ GPS cho T2 để giao, nhận ma túy, đồng thời gửi số điện thoại 0084921724363 của người nhận để T2 liên lạc giao ma túy. Sau đó, T2 hướng dẫn L1 điều khiển xe quay lại đi hướng phường Đ, rẽ vào Quốc lộ I hướng lên xã L, tỉnh Quảng Trị để giao nhận ma tuý. Trên đường đi, người đàn ông dùng số +856293161734 nhắn tin qua ứng dụng WhatsApp đến máy điện thoại O1 màu đen gặp T2, gửi vị trí GPS giao dịch tại xã L, tỉnh Quảng Trị. Trên đường đi, V sử dụng tài khoản có tên “Van”, nhắn tin qua ứng dụng WhatsApp đến máy điện thoại OPPO màu đen, gửi hình ảnh một tờ tiền 50.000 đồng, có số sêri FD 23967411, rồi gọi điện Tik yêu cầu đối chiếu trùng số sêri trên tờ tiền người nhận ma tuý cung cấp, rồi mới giao, nhận ma tuý. Tik sợ tin nhắn bị thu hồi nên lấy điện thoại Iphone của T2 chụp màn hình tin nhắn có tờ tiền trên điện thoại OPPO màu đen. Khi xe đi đến xã K, tỉnh Quảng Trị, gần điểm hẹn giao nhận ma tuý, vì không muốn S4, D, O, C1 biết việc vận chuyển ma túy, nên T2 bảo L1 dừng xe rồi yêu cầu S4, D, O, C1 xuống xe tìm nơi uống nước, đợi xe quay lại đón. Sau đó, T2 bảo L1 điều khiển xe đến điểm hẹn theo địa chỉ GPS (tại ngã ba Làng V, xã L, tỉnh Quảng Trị) thì dừng xe, rồi đưa máy điện thoại Oppo màu đen cho K4, yêu cầu K4 và K2 xuống xe tìm người nhận ma túy, hướng dẫn Keosevan khi tìm được người nhận ma túy thì lấy xe của người nhận ma tuý, rồi liên lạc cho T2 để đến chuyển ma túy sang xe của người nhận ma túy và hướng dẫn Keosevan đối chiếu số sêri trên tờ tiền để xác nhận.
Sau khi K4 và K2 xuống xe, T2 hướng dẫn L1 điều khiển xe đi tiếp khoảng 01 km, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T2 thấy khu vực này đông dân cư nên bảo L1 quay xe lại đi đến Km 73 Quốc lộ I (thôn Làng Vây, xã L, tỉnh Quảng Trị, gần vị trí K4 và K2 vừa xuống xe) thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang đối với Lembi K3, Tik X và Sisamout S1. Khi bị bắt giữ, các đối tượng trên khai nhận cùng với 06 đối tượng khác đều mang quốc tịch Lào, gồm 02 nam đã xuống xe ở xã L và 04 nữ đã xuống xe tại xã K đang vận chuyển trái phép 100 gói ni lông (90 gói màu vàng và 10 gói màu trắng) bên trong chứa các khối tinh thể rắn màu trắng là ma túy từ Lào sang Việt Nam giao cho người khác để nhận tiền công.
Quá trình điều tra, T2, S2, L1 và K4 khai ngoài lần vận chuyển ma tuý nêu trên, T2, S2, L1 và K4 còn nhiều lần vận chuyển thuê ma tuý cho Ven P để lấy tiền công. K2 khai đã 01 lần đi cùng L1 và K4 vận chuyển ma túy cho.
(Bút lục:01-06,14-28, 560-573, 955-1036, 1038-1127, 1129-1132-1190)
* Thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài sản khi bắt người phạm tội quả tang ngày 30/3/2024:
01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Hiace Toyota, màu sơn trắng, gắn biển kiểm soát nước ngoài 6689, số khung: JTFSS22P800165620, số máy: 2KDA936120, xe đã qua sử dụng.
01 (một) tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập - tái xuất do Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo cấp ngày 29/3/2024.
01 (một) cuốn sổ trang bìa mặt ngoài màu vàng gồm 08 tờ cả bìa, in nhiều chữ nước ngoài.
01 (một) cuốn sổ trang bìa mặt ngoài màu vàng gồm 32 tờ cả bìa, in nhiều chữ nước ngoài.
01 (một) thẻ nhựa màu xanh trắng in nhiều chữ nước ngoài.
05 túi xách gồm: 01 (một) túi xách bằng vải màu đen. 01 (một) túi xách màu xanh. 01 (một) túi xách màu đen. 01 (một) túi xách màu xanh đen. 01 (một) túi xách màu đỏ.
01 bao ni lông màu trắng có hai quai xách có in dòng chữ co.op mart bạn của mọi nhà.
39 gói ni lông màu vàng mặt ngoài có nhiều chữ nước ngoài và 05 ngôi sao màu đỏ, 78 gói ni lông trong suốt, 39 khối tinh thể rắn, màu trắng.
17 gói ni lông màu vàng mặt ngoài có nhiều chữ nước ngoài và 05 ngôi sao màu đỏ, 34 gói ni lông trong suốt, 17 khối tinh thể rắn, màu trắng.
20 gói ni lông màu vàng mặt ngoài có nhiều chữ nước ngoài và 05 ngôi sao màu đỏ, 40 gói ni lông trong suốt, 20 khối tinh thể rắn, màu trắng.
03 gói ni lông màu vàng mặt ngoài có nhiều chữ nước ngoài và 05 ngôi sao màu đỏ, 6 gói ni lông trong suốt, 03 khối tinh thể rắn, màu trắng.
10 gói ni lông màu vàng mặt ngoài có nhiều chữ nước ngoài và 05 ngôi sao màu đỏ, 20 gói ni lông trong suốt, 10 khối tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma túy.
09 gói ni lông màu trắng mặt ngoài có in nhiều chữ nước ngoài, các chữ số từ số 1 đến số 9 và 09 ngôi sao màu vàng, 18 gói ni lông trong suốt, 09 khối tinh thể rắn, màu trắng.
01 gói ni lông màu vàng mặt ngoài có nhiều chữ nước ngoài và 05 ngôi sao màu đỏ; 01 gói ni lông màu trắng mặt ngoài có in nhiều chữ nước ngoài, các chữ số từ số 1 đến số 9 và 09 ngôi sao màu vàng; 04 gói ni lông trong suốt, 02 khối tinh thể rắn, màu trắng.
- Tạm giữ của Tik Xayasane:
01 (một) túi xách màu đen, nhãn hiệu WEIXIER URBAN LEISURE.
01 (một) hộ chiếu số PA 0272672.
01 (một) ví da màu vàng, nhãn hiệu LEVI'S.
01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu IPhone, vỏ ốp điện thoại bằng nhựa màu đen, mở vỏ ốp điện thoại bên trong có 01 (một) thẻ sim, bên trong khe sim có 01 (một) thẻ sim.
Số tiền 17.350.000 đồng tiền Việt Nam.
Số tiền 1.202 USD, 200.000 kip Lào và 1.000 tiền Hàn Quốc.
- Tạm giữ của Lembi Kingvannouvong:
01 (một) túi xách màu xanh, nhãn hiệu WE POWER.
01 (một) thẻ nhựa bề mặt in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu 0816600.
01 (một) thẻ nhựa bề mặt in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu 110082402.
01 (một) hộ chiếu số P 2316993.
01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu VIVO, vỏ ốp điện thoại bằng nhựa nhiều màu sắc, mở vỏ ốp điện thoại bên trong có 01 (một) thẻ sim, bên trong khe sim có 01 (một) thẻ sim.
Số tiền 274.000 kíp Lào.
- Tạm giữ của Sisamout Sisomboun:
01 (một) túi xách màu xám, nhãn hiệu MENGTAIDI.
01 (một) thẻ nhựa bề mặt in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu 0567828.
01 (một) hộ chiếu số PA 0214375.
01 (một) cuốn sổ in nhiều chữ nước ngoài, bìa sổ màu xanh, gồm 12 tờ cả bìa.
01 (một) ví da màu đen.
01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu xanh đen, nhãn hiệu VIVO, bên trong khe sim có một thẻ sim, góc màn hình phía dưới bị vỡ nhiều chỗ.
01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, nhãn hiệu IPhone, bên trong khe sim có một thẻ sim.
Số tiền 170.000 đồng tiền Việt Nam.
Số tiền in chữ nước ngoài, gồm: 101 USD; 100.000 kíp; 01 tờ mệnh giá 170 Bạt.
- Tạm giữ của Sengphet K2:
01 (một) thẻ nhựa màu vàng trắng, in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu: 0613805 0016373.
01 (một) thẻ nhựa màu trắng đen, in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu: 11-0099469.
01 (một) túi xách bằng vải màu xám đen, loại có quai đeo, nhãn hiệu LOUISVUITTON PARIS.
01 (một) hộ chiếu số P 2921861.
01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen đỏ, nhãn hiệu: VIVO, bên trong khe sim có 02 thẻ sim.
- Tạm giữ của Sengphet K4:
01 (một) túi xách bằng da, màu đen, có quai đeo.
01 (một) thẻ nhựa màu vàng – trắng, in nhiều chữa nước ngoài, ký hiệu 0925999 0025524.
01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu OPPO, trong khe sim có 02 thẻ sim.
01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu OPPO, trong khe sim có 01 thẻ sim.
Số tiền 1.510.000 đồng tiền Việt Nam.
Số tiền 1.802.000 kíp Lào; 700 USD.
01 (một) hộ chiếu số P 18217561. (Bút lục:07-13, 73, 82, )
Bản kết luận giám định số: 463/KL-KTHS ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q kết luận:
Khối tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MT39 là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 39.015,98 g.
Khối tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MT17 là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 17.006,74 g.
Khối tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MT20 là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 20.007,24 g.
Khối tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MT03 là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 2.999,55 g.
Khối tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MT10 là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 9.990,30 g.
Khối tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MT09 là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 8.942,82 g.
Khối tinh thể rắn màu trắng (trong túi ni lông ký hiệu 1), được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MTBG là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 995,02 g.
Khối tinh thể rắn màu trắng (trong túi ni lông ký hiệu 2), được niêm phong trong hộp giấy niêm phong Ký hiệu MTBG là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 988,77 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của C2 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- 05 sổ hộ chiếu chuyển theo hồ sơ vụ án; số vật chứng và tài sản đã thu giữ và những vật chứng được hoàn trả sau giám định được chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị bảo quản, chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 590/CT-VKSQT-P1 ngày 14/8/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Tik X, Lembi K3, Sisamout S1, Sengphet K4, Sengphet K2 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên toà, các bị cáo Tik X, Lembi K3, Sisamout S1, Sengphet K4, S5 khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung của bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Tik X, Lembi K3, Sisamout S1, Sengphet K4, Sengphet K2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 39 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Tik X, Sengphet K4, Lembi K3, Sisamout S1 và Sengphet K2 tù chung thân. Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và các vật chứng không có giá trị, tịch thu sung công quỹ các công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo và số tiền thu giữ từ các bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại các tài sản, các loại giấy tờ tùy thân không liên quan đến hành vi phạm tội cho các bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo phải chịu theo luật định.
Các Luật sư bào chữa cho các bị cáo nhất trị về tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố. Luật sư bào chưa cho bị cáo Sisamout S1 đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo này vì vai trò của bị cáo chỉ lái xe, hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, đề nghị áp dụng mức hình phạt 20 năm đối với các bị cáo. Các luật sư khác cũng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì nhận thức về P3 còn hạn chế, do hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn nên đi vận chuyển ma túy thuê để kiếm tiền.
Các bị cáo không có ý kiến gì bổ sung lời bào chữa của luật sư, đề nghị xem xét trả lại số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Đ3, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận từ ngày 27/3 đến ngày 30/3/2024, các bị cáo đã có hành vi vận chuyển trái phép 99.946,42 gam Methamphetamine từ Lào vào Việt Nam nhằm giao cho người khác. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm gia tăng tệ nạn và tội phạm ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Trong vụ án này, các bị cáo Tik X, Sengphet K4, Lembi K3, Sisamout S1, Sengphet K2 đều tham gia tích cực, cùng biết rõ trên xe có ma túy và cùng thực hiện toàn bộ quá trình vận chuyển, từ việc phân công người liên lạc, người điều khiển phương tiện, người tìm địa điểm giao nhận. Tất cả đều giữ vai trò đồng phạm thực hành, cùng thống nhất ý chí để vận chuyển ma túy từ Lào vào Việt Nam để giao cho người khác. Hành vi của các bị cáo cần xử lý nghiêm minh. Mặc dù quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải (tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự), tuy nhiên khối lượng ma túy các bị cáo vận chuyển là quá lớn. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù không có thời hạn đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Đối với người liên quan trong vụ án: Trong vụ án các bị cáo có người đàn ông tên Ven P và người liên lạc nhận ma túy tại Việt nam. Tuy nhiên quá trình điều tra chưa xác định rõ danh tính của những người này. Cơ quan Điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ theo quy định.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định và các vật chứng khác không có giá trị sử dụng; 05 túi xách gồm: 01 (một) túi xách bằng vải màu đen. 01 (một) túi xách màu xanh. 01 (một) túi xách màu đen. 01 (một) túi xách màu xanh đen. 01 (một) túi xách màu đỏ; 01 bao ni lông màu trắng có hai quai xách có in dòng chữ co.op mart bạn của mọi nhà.
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe ô tô Hiace Toyota BKS 6689; 01 điện thoại Oppo do V giao để liên lạc cùng một số điện thoại, tiền Việt Nam và ngoại tệ các bị cáo dùng trong quá trình phạm tội.
+ Trả lại cho các bị cáo: hộ chiếu, giấy tờ tùy thân khác, tài sản cá nhân và số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Tik X, L, S, Sengphet K4, Sengphet K2 phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Tik X, Lembi K3, S, S, Sengphet K2 được kháng cáo theo luật định.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Tik X, Lembi K3, Sisamout S1, Sengphet K4, Sengphet K2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đã được sửa đổi năm 2025, xử phạt:
- Bị cáo Tik X tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.
- Bị cáo Sengphet K4 tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 03/4/2024.
- Bị cáo Lembi K3 tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.
- Bị cáo Sisamout S1 tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.
- Bị cáo Sengphet K2 tù Chung thân, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 30/3/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT39, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Công N, Ngô Thị T4, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT39-SGĐ, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Chí Q1, Châu Văn P1, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT17, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Công N, Ngô Thị T4, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT17-SGĐ, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Chí Q1, Châu Văn P1, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT20, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Công N, Ngô Thị T4, Trần T5, H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT20-SGĐ, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Chí Q1, Châu Văn P1, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT03, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Công N, Ngô Thị T4, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT03-SGĐ, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Chí Q1, Châu Văn P1, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT10, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Công N, Ngô Thị T4, Trần Trung H1 và hình dầu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT10-SGĐ, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Chí Q1, Châu Văn P1, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT09, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Công N, Ngô Thị T4, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MT09-SGĐ, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Chí Q1, Châu Văn P1, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MTBG, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Công N, Ngô Thị T4, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) hộp giấy niêm phong ký hiệu MTBG-SGĐ, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Chí Q1, Châu Văn P1, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 465/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
- 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS2A 066814, bên ngoài có họ tên, chữ ký của Trương Văn Song H2, Lê Quốc A, Trần Trung H1 và hình dấu của Phòng K5 Công an tỉnh Q (kèm theo Kết luận giám định số: 463/KL-KTHS, ngày 06/4/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh Q).
3.2. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
+ 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Hiace Toyota, màu sơn trắng, gắn biển kiểm soát nước ngoài 6689, số khung: JTFSS22P800165620, số máy: 2KDA936120, xe đã qua sử dụng kèm 01 (một) tờ khai phương tiện vận tải đường bộ tạm nhập - tái xuất do Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo cấp ngày 29/3/2024; 01 (một) cuốn sổ trang bìa mặt ngoài màu vàng gồm 08 tờ cả bìa, in nhiều chữ nước ngoài.
01 (một) cuốn sổ trang bìa mặt ngoài màu vàng gồm 32 tờ cả bìa, in nhiều chữ nước ngoài.
+ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu OPPO bên trong có gắn 01 thẻ sim là điện thoại của V để sẵn trên xe để những người vận chuyển sử dụng liên lạc trong quá trình vận chuyển ma túy;
+ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu IPhone, vỏ ốp điện thoại bằng nhựa màu đen, mở vỏ ốp điện thoại bên trong có 01 (một) thẻ sim, bên trong khe sim có 01 (một) thẻ sim của T2;
+ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu VIVO, vỏ ốp điện thoại bằng nhựa nhiều màu sắc, mở vỏ ốp điện thoại bên trong có 01 (một) thẻ sim, bên trong khe sim có 01 (một) thẻ sim của L1;
+ 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, nhãn hiệu IPhone, bên trong khe sim có một thẻ sim ký hiệu: 8401230812561533IDE, là của S2 mua để sử dụng, có dùng liên lạc với V trong quá trình vận chuyển ma túy;
+ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen đỏ, nhãn hiệu: VIVO, bên trong khe sim có 02 thẻ sim của Sengphet K2 sử dụng liên lạc liên quan vận chuyển ma túy;
+ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu OPPO, trong khe sim có 02 thẻ sim, là điện thoại của S6 sử dụng liên lạc liên quan vận chuyển ma túy;
+ T6 gồm: Số tiền 17.350.000 đồng tiền Việt Nam của Tik X; Tiền in chữ Ngân hàng N1 170.000đ, thu của S2. Tiền này T2 đưa cho S2 sử dụng để phục vụ vận chuyển ma túy còn lại; 700 USD là số tiền có sẵn trên xe còn lại từ 3.000USD, số tiền có sẵn trên xe ô tô, Sengphet keosevan giữ để chi tiêu trên đường đi vận chuyển ma túy; 1.510.000 đồng là số tiền còn lại Sengphet keosevan đổi trong số 3.000USD trên để thuận tiện chi tiêu ở Việt Nam khi đi vận chuyển ma túy còn lại.
3.3. Trả lại cho các bị cáo các tài sản, hộ chiếu và các giấy tờ tùy thân khác, gồm:
+ Trả cho bị cáo Tik X: 01 (một) túi xách màu đen, nhãn hiệu WEIXIER URBAN LEISURE; 01 (một) hộ chiếu số PA 0272672, mang tên TIK XAYASANE, sinh ngày 21/01/1997; 01 (một) ví da màu vàng, nhãn hiệu LEVI'S; Số tiền 1.202 USD, 200.000 kip Lào và 1.000 tiền Hàn Quốc là tiền cá nhân của T2.
+ Trả lại cho bị cáo Lembi K3: 01 (một) túi xách màu xanh, nhãn hiệu WE POWER; 01 (một) thẻ nhựa bề mặt in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu 0816600; 01 (một) thẻ nhựa bề mặt in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu 110082402; 01 (một) hộ chiếu số P 2316993, mang tên LEMBI KINGVANNOUVONG, sinh ngày 01/02/1999; Số tiền 274.000 kíp Lào là tiền cá nhân của L1.
+ Trả lại cho bị cáo cho Sisamout Sisomboun: 01 (một) túi xách màu xám, nhãn hiệu MENGTAIDI; 01 (một) thẻ nhựa bề mặt in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu 0567828; 01 (một) hộ chiếu số PA 0214375, mang tên SISAMOUT SISOMBOUN, sinh ngày 30/12/1996; 01 (một) cuốn sổ in nhiều chữ nước ngoài, bìa sổ màu xanh, gồm 12 tờ cả bìa; 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu xanh đen, nhãn hiệu VIVO, bên trong khe sim có một thẻ sim, góc màn hình phía dưới bị vỡ nhiều chỗ là điện thoại của S2, không liên quan hành vi phạm tội; Số tiền in chữ nước ngoài, gồm: 101 USD; 100.000 kíp; 01 tờ mệnh giá 170 Bạt là tiền cá nhân của S2.
+ Trả lại cho bị cáo cho Sengphet K2: 01 (một) thẻ nhựa màu vàng trắng, in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu: 0613805 0016373; 01 (một) thẻ nhựa màu trắng đen, in nhiều chữ nước ngoài, ký hiệu: 11-0099469; 01 (một) túi xách bằng vải màu xám đen, loại có quai đeo, nhãn hiệu LOUISVUITTON PARIS; 01 (một) hộ chiếu số P 2921861 mang tên: SENGPHET KEONOUVONG.
+ Trả lại cho bị cáo Sengphet K4: 01 (một) túi xách bằng da, màu đen, có quai đeo; 01 (một) thẻ nhựa màu vàng – trắng, in nhiều chữa nước ngoài, ký hiệu 0925999 0025524; 01 (một) hộ chiếu số P 18217561 mang tên SENGPHET KEOSEVAN, sinh ngày 25/3/1996; 1.802.000 kíp là tiền của K4 mang theo, không liên quan vận chuyển trái phép chất ma túy.
Các vật chứng trên hiện có tại kho vật chứng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình ngày 16/9/2025.
Đối với số tiền thu giữ đã được niêm phong tại 01 phong bì giấy bên ngoài có họ tên và chữ ký của Trần Xuân T7, Bùi Kiên Đ2 và hình dấu phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Đà Nẵng hiện được bảo quản tại phòng G, kho bạc nhà nước khu vực XI theo biên bản giao nhận tài sản số 22/2025/BBBG-PGD số 10 KBNN Khu vực số 10. Đối với số tiền thu giữ được niêm phong tại túi giấy ký hiệu PS2 2126516, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thị Thanh H3, Trương P2 và hình dấu của Phòng kỹ thuật công an tỉnh Q gửi bảo quản tại phòng giao dịch số A, kho bạc nhà nước khu vực XI theo biên bản giao nhận tài sản số 68/2024/BBBG-PGD số A KBNN tỉnh Q.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Tik X, Lembi K3, Sisamout S1, Sengphet K4, Sengphet K2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: các bị cáo Tik X, L, Sisamout S1, Sengphet K4, Sengphet K2 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/9/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Từ Thị Hải Dương |
Bản án số 143/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 143/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo bị xử chung thân
