|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 143/2025/HS-ST Ngày: 24 - 06 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chánh Bổn – Cán bộ hưu trí;
- Bà Nguyễn Thị Quy – Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện Định Quán.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
***
Hôm nay, ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại Hội trường xét xử A, tầng trệt – Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 03 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 102/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 05 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 244/HPT-QĐ ngày 27 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 266/HPT-QĐ ngày 30 tháng 05 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn Đức N, sinh ngày 17/8/1998, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú hiện nay: tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1974 và bà Cao Thị L1, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ tên Phạm Ngọc Thùy L2, sinh năm 2003 và 01 con, sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại Bản án số 117/2022/HSST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, xử phạt Nguyễn Đức N số tiền 40.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” và phải nộp 200.000 đồng án phí HSST, đã chấp hành xong tháng 02/2023 (Bút lục số 90 – 94).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/3/2024, bị tạm giữ từ ngày 11/03/2024, đến ngày 14/3/2024 được tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khởi nơi cư trú” cho đến nay (bút lục số 78 đến 80).
2. Bị cáo Hồ Như Đ, sinh ngày 18/01/1989, tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nơi cư trú hiện nay: Tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm mộc; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Hồ Như Y (Đã chết) và bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1957; Gia đình bị cáo có 04 chị em ruột, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1992 (Đã ly hôn) và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân:
- Ngày 10/6/2012 bị đưa đi cơ sở giáo dục P1, huyện P, tỉnh Bình Dương, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 1421/QĐ ngày 28/5/2012 của UBND tỉnh Đ, đến ngày 08/02/2014 chấp hành xong.
- Tại Bản án số 39/2017/HSST ngày 04/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, xử phạt Hồ Như Đ 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù tại Trại giam T6 ngày 24/01/2018 (bút lục số 57 – 61).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/3/2024, bị tạm giữ từ ngày 11/03/2024, đến ngày 14/3/2024 được tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (bút lục số 47 đến 49).
3. Bị cáo Nguyễn Xuân T, sinh ngày 20/9/1989 tại Đắk Lắk; Tên gọi khác: T1; Giới tính: Nam; Nơi cư trú hiện nay: Tổ A, ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Xuân L3, sinh năm 1959 và bà Vũ Thị L4, sinh năm 1960; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Có vợ tên Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991 và 01 người con ruột, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Tại Bản án số 140/2023/HSST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, xử phạt Nguyễn Xuân T số tiền 50.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc” và phải nộp 200.000 đồng án phí HSST, đã chấp hành xong tháng 03/2025.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/3/2024, bị tạm giữ từ ngày 11/03/2024, đến ngày 14/3/2024 được tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (bút lục số 16 đến 18).
4. Bị cáo Phạm Thị Thu N2, sinh ngày 20/6/2005, tại Đồng Nai; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú hiện nay: Khu A, ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Phạm Hữu L5, sinh năm 1970 và bà Dương Thị L6, sinh năm 1975; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có chồng tên Nguyễn Quốc V, sinh năm 1988 và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/3/2024, bị tạm giữ từ ngày 11/03/2024, đến ngày 14/3/2024 được tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay (bút lục số 111 đến 113).
5. Bị cáo: Hồ Ngọc Phương N3, sinh ngày 18/8/2007, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú hiện nay: Số C, tổ A, ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Hồ Văn L7, sinh năm 1972 và Đặng Thị H2, sinh năm 1975; Gia đình có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con út trong gia đình; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 14/3/2024 cho đến nay.
6. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hồ Ngọc Phương N3: Bà Đặng Thị H2, sinh năm 1975 (Mẹ ruột của bị cáo N3).
Địa chỉ: Số C, tổ A, ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
7. Người bào chữa cho bị cáo Hồ Ngọc Phương N3: Bà Phan Thị T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ.
(Tất cả các bị cáo, bà H2 và bà T2 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 10/3/2024, tại xưởng mộc của Nguyễn Xuân T, thuộc ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Xuân T, Hồ Như Đ, Nguyễn Đức N, Phạm Thị Thu N2, Hồ Ngọc Phương N3 và đối tượng tên S (không rõ nhân thân, lai lịch) cùng rủ nhau đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Cào liêng”. Để thực hiện hành vi đánh bạc các đối tượng trải 01 cái mền xuống đất làm chiếu bạc và sử dụng 01 bộ bài tây (52 lá bài) chia cho 06 tụ mỗi tụ 03 lá, số tiền mỗi tụ bỏ ra là 50.000 đồng xuống chiếu bạc (gọi là tiền đường), mỗi ván quy định tố nhỏ nhất 50.000 đồng, lớn nhất dưới 1.000.000 đồng. Các con bạc đánh bạc tại đây đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, thì bị bắt quả tang, riêng Hồ Ngọc Phương N3, Nguyễn Thị Thu N4 và đối tượng tên S chạy ra phía sau nhảy xuống sông Đ để tẩu thoát, N4 men theo vách đá lên bờ thì
bị bắt. Đến khoảng 02 giờ 15 phút sáng ngày 11/3/2024, Hồ Ngọc Phương N3 đến Công an huyện Đ để đầu thú về hành vi đánh bạc. Đối tượng S sau khi nhảy xuống sông bơi vào bờ hướng xã N đã bỏ trốn đến nay chưa bắt được. Cách thức đánh bạc như sau: Các con bạc sử dụng bộ bài tây 52 lá để đánh bạc, trước khi bắt đầu chia bài, tất cả con bạc mỗi người phải bỏ ra số tiền 50.000 đồng (gọi là tiền đường). Bắt đầu ván bài, mỗi con bạc sẽ được chia 03 lá bài và sau khi xem xong thì không cho người nào biết, sau đó con bạc sẽ có các lựa chọn: Úp bỏ bài nếu cảm thấy bài nhỏ không thể thắng, thì con bạc sẽ mất đi số tiền đường và kết thúc ván bài đó. Theo bài, các con bạc đặt tiền đúng bằng số tiền của người ở cửa trên đặt. Tố bài, các con bạc đặt thêm tiền cược cao hơn số tiền của người cửa trên đặt tối thiểu 10.000 đồng, tối đa 100.000 đồng. Sau khi các con bạc đặt tiền cược và tố bài xong, thì người nào có bài mang giá trị cao nhất sẽ thắng toàn bộ số tiền cược. Bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé như sau: Bão (Sáp) là 03 lá bài giống nhau, nếu bài giống nhau thì người nào có Bão lớn hơn sẽ thắng, thứ tự từ bé đến lớn là 2,3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K,A. Bài L8 là 03 lá bài liên tiếp nhau, cao nhất là QKA và thấp nhất là A23, nếu bài giống nhau thì sẽ so chất cao nhất, chất cao nhất là C, R, C1, B. Ba tây là khi 03 lá bài đều là tây (J,Q,K), nếu bài giống nhau thì phải so sánh đến chất, nếu chất bằng nhau sẽ so sánh đến lá bài, thứ tự từ thấp đến cao J, Q, K. Điểm là khi bài không có B1, L8, Ba tây thì tính điểm: Lấy tổng điểm 03 lá bài chia cho 10, số dư là số điểm của bài, điểm từ cao đến thấp là 9,8,7,6,5,4,3,2,1,0, điểm của các lá bài tính như sau 2,3,4,5,6,7,8,9 được tính với số điểm tương ứng 2,3,4,5,6,7,8,9, lá A tính 01 điểm, lá 10, J, Q, K tính 0 điểm, nếu bài đồng điểm thì so sánh lá bài có chất cao nhất, nếu cùng chất thì so sánh lá bài từ thấp đến cao là 2,3,4,5,6,7,8,9,J,Q,K. Nếu ai có bài sáp thì mỗi người phải chung thêm 50.000 đồng cho người có bài sáp. Khi tham gia đánh bạc: Nguyễn Đức N mang theo số tiền 6.300.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Ngọc thua 6.000.000 đồng nên khi bị bắt thu tại vị trí ngồi của N số tiền 300.000 đồng; Hồ Như Đ mang theo số tiền 3.450.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Đ không thắng, không thua nên khi bị bắt thu giữ tại vị trí ngồi của Đ số tiền 3.450.000 đồng; Nguyễn Xuân T mang theo số tiền 2.400.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Thiêm thua 1.500.000 đồng nên khi bị bắt thu giữ tại vị trí ngồi của Thiêm số tiền 700.000 đồng; Phạm Thị Thu N2 mang theo 3.400.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc N2 thắng 1.600.000 đồng nên khi bị bắt thu giữ trong người của N2 số tiền 5.000.000 đồng; còn Hồ Ngọc Phương N3 mang theo số tiền 1.250.000 đồng sử dụng để đánh bạc, quá trình đánh bạc N3 thua 450.000 đồng nên khi bị bắt N3 vứt lại 800.000 đồng tại khu vực xung quanh chiếu bạc. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 16.800.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2, Hồ Ngọc Phương N3 đã khai nhận mọi hành vi phạm tội của bản thân (bút lục số 31 đến 40).
Vật chứng vụ án:
Tiền mặt 11.750.000 đồng trong đó:
- Thu giữ tại khu vực chiếu bạc 4.450.000 đồng trong đó: T3 tại vị trí Nguyễn Xuân T số tiền 700.000 đồng, tại vị trí Nguyễn Đức N số tiền 300.000 đồng, tại vị trí người Hồ Như Đ số tiền 3.450.000 đồng, trong người Phạm Thị Thu N2 số tiền 5.000.000 đồng;
- Thu giữ xung quanh khu vực chiếu bạc do các đối tượng tham gia đánh bạc vứt lại khi bỏ chạy 2.300.000 đồng;
- 08 bộ bài tây 52 lá (03 bộ đã qua sử dụng, 05 bộ chưa qua sử dụng) và 01 tấm mền kích thước 1m8 x 2m, dùng vào việc phạm tội, xét giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu ủy (bút lục số).
Số tiền 11.750.000 đồng thu trên chiếu bạc, trên người các đối tượng và khu vực xung quanh chiếu bạc là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
Đối với số tiền chênh lệch 5.050.000 đồng, do chưa làm việc được với đối tượng S nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với đối tượng tên S, hiện không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKS-HS ngày 12/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo gồm: Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2 và Hồ Ngọc Phương N3 về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 (Riêng các bị cáo N2 và N3 áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51, bị cáo N3 được áp dụng thêm Điều 98), các Điều 65, 100 và Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo gồm: Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2 và Hồ Ngọc Phương N3 phạm tội “Đánh bạc” và xử phạt: Các bị cáo Nguyễn Đức N, Nguyễn Xuân T, mỗi bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; bị cáo Hồ Như Đ từ 12 tháng đến 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; bị cáo Phạm Thị Thu N2 từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định đối với các bị cáo; bị cáo Hồ Ngọc P Nhân từ 06 tháng 08 tháng cải tạo không giam giữ; tịch thu, sung công nhà nước số tiền 11.750.000 đồng mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
Tại phiên toà, tất cả các bị cáo gồm: Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2 và Hồ Ngọc Phương N3 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị luận tội của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo N3 thống nhất với phần trình bày bào chữa, tranh luận của người bào chữa cho bị cáo, không bổ sung gì thêm.
Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo Hồ Ngọc Phương N3 là bà Phan Thị T2 bào chữa, tranh luận:
- Thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Cáo trạng, bản luận tội và cũng thống nhất với đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai;
- Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các Điều 98 và 99 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt là phạt tiền đối với bị cáo N3 vì bị cáo có có tài sản riêng là một sổ tiết kiệm, đủ khả năng nộp phạt và đồng thời, vài ngày nữa bị cáo đi thi tốt nghiệp và đại học nên việc áp dụng hình phạt cải tạo, không giam giữ sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của bị cáo sau này.
Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Hồ Ngọc Phương N3 là bà Đặng Thị H2 không có ý kiến đối với Cáo trạng truy tố bị cáo N3, không có ý kiến, tranh luận đối với phần trình bày luận tội của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N3 và áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo N3 vì bị cáo N3 có tài sản riêng là một sổ tiết kiệm, đủ khả năng nộp phạt và đồng thời, vài ngày nữa bị cáo đi thi tốt nghiệp và đại học nên việc áp dụng hình phạt cải tạo, không giam giữ sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của bị cáo sau này. Ngoài ra, bà thống nhất với phần trình bày bào chữa, tranh luận của người bào chữa cho bị cáo N3, không bổ sung gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai quy định tại Điều 280, 281 và khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, tất cả các bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
[2.1] Những chứng cứ xác định hành vi bị truy tố có tội và tội danh:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 23 giờ 10 phút ngày 10/3/2024, tại xưởng mộc của Nguyễn Xuân T, thuộc ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Công an T7 bắt quả tang Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2, Hồ Ngọc Phương N3 đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Cào Liêng”. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là: 16.850.000 đồng (trong đó: thu trên chiếu bạc, trên người các đối tượng và khu vực xung quanh chiếu bạc số tiền 11.750.000 đồng, đối tượng tên S bỏ chạy nên chưa thu giữ được số tiền 5.050.000 đồng). Trong đó, khi tham gia đánh bạc: Nguyễn Đức N mang theo số tiền 6.300.000 đồng, Hồ Như Đ mang theo số tiền 3.450.000 đồng, Nguyễn Xuân T mang theo số tiền 2.400.000 đồng, Phạm Thị Thu N2 số tiền 3.400.000 đồng và Hồ Ngọc Phương N3 mang theo số tiền 1.250.000 đồng, để sử dụng đánh bạc với nhau trong vụ án.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú, bản tự khai/bản tường trình của các bị cáo, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai người làm chứng và cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi do các bị cáo Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2, Hồ Ngọc Phương N3 phạm tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tất cả các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Phạm Thị Thu N2, Hồ Ngọc Phương N3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, các bị cáo N, Đ và T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo N và T hiện đang phải nuôi con nhỏ, bị cáo N3 sau khi phạm tội ra đầu thú; có ông bà ngoại là ông Đặng Văn T4, bà Trần Thị N5 người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho tất cả các bị cáo thể hiện tính nhân đạo pháp luật nhà nước ta.
[2.4] Bản thân các bị cáo Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2 khi phạm tội đều đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự (riêng bị cáo N3 phạm tội khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) nên
nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì ham mê đỏ đen, sát phạt, vụ lợi, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo bất chấp cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được nhà nước bảo hộ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Cào liêng” nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc trong vụ án; ngoài ra, các bị cáo gồm N, Đ và T có nhân thân xấu, không lấy đó làm bài học, tu dưỡng và rút kinh nghiệm, nay lại tiếp tục phạm tội nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự, mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.
Xét thấy, tất cả các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc không lớn nên để thể hiện sự nhân đạo của pháp luật nhà nước ta, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội, việc không áp dụng hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và các bị cáo có khả năng tự cải tạo, sửa chữa nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và các quy định của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 04 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định đối với các bị cáo gồm: N, Đ, T và N2; đồng thời phạt tiền bổ sung các bị cáo gồm: N, Đ, T cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội; đối với bị cáo N3, xét thấy bị cáo N3 có tài sản riêng, vài ngày nữa bị cáo đi thi tốt nghiệp và đại học nên tránh ảnh hưởng đến việc học tập của bị cáo sau này, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[3] Về xử lý vật chứng và tiền, tài sản, vật liên quan đến tội phạm:
- Đối với số tiền 11.750.000 đồng thu trên chiếu bạc, trên người các bị cáo và khu vực xung quanh chiếu bạc, là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
- 08 bộ bài tây 52 lá (03 bộ đã qua sử dụng, 05 bộ chưa qua sử dụng) và 01 tấm mền kích thước 1m8 x 2m, dùng vào việc phạm tội, xét giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu, tiêu hủy.
[4] Các vấn đề khác:
Đối với số tiền chênh lệch 5.050.000 đồng do chưa làm việc được với đối tượng S nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với đối tượng tên S, hiện không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử một phần nên được chấp nhận một phần.
Đối với phần trình bày bào chữa của người bào chữa cho bị cáo N3 tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày, lời nói sau cùng của các bị cáo và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (Riêng các bị cáo N2 và N3, được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51), các Điều 65, 98, 99, 58, 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018; Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 04 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Điều 106, 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 292, 298, 299, 326, 331, 333, 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ các Điều 11, 12 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo gồm: Nguyễn Đức N, Hồ Như Đ, Nguyễn Xuân T, Phạm Thị Thu N2 và Hồ Ngọc Phương N3 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Phạt bổ sung bị cáo N 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Hồ Như Đ 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 08 (T5) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Phạt bổ sung bị cáo Đ 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Phạt bổ sung bị cáo T 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu N2 08 (T5) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc Phương N3 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Giao các bị cáo gồm: N, Đ và T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo N2 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng và tiền, tài sản liên quan đến tội phạm:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 11.750.000 đồng, các bị cáo dùng để đánh bạc trong vụ án (Theo biên lai thu tiền số 0006183 ngày 08/04/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai);
- Tịch thu, tiêu hủy gồm: 08 bộ bài tây 52 lá (03 bộ đã qua sử dụng, 05 bộ chưa qua sử dụng) và 01 tấm mền kích thước 1m8 x 2m, các bị cáo dùng vào việc phạm tội (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/04/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Tất cả các bị cáo, bà H2 và bà T2, được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đạt |
Bản án số 143/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 143/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Ngọc và đồng phạm phạm tội “Đánh bạc”.
