Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 143/2025/HS-ST

Ngày: 20-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh
  • 2. Ông Huỳnh Phi Hổ
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 106/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

  • Nguyễn Bá K, sinh năm 1993 tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: G, tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Bá K1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất, chưa có vợ, con.
  • Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
  • Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  • Bị hại: Công ty cổ phần D.
  • Địa chỉ trụ sở chính: 405/15, đường X, Phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H, chức vụ: Tổng Giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Nhật Thiên A, chức vụ: Quản lý khu vực của Công ty (số điện thoại liên hệ: 0899.343.xxx).

(Bị cáo K có mặt, ông Thiên A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bá K là nhân viên giao hàng của Công ty Cổ phần D (địa chỉ số D, đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) (sau đây viết tắt là Công ty) do ông Lương Duy H (sinh năm 1988, ngụ tại C B, phường A, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh) là Tổng Giám đốc, đồng thời là người đứng đầu chi nhánh tại Đồng Nai (địa chỉ số A đường Đ, khu phố H, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), có ký Hợp đồng lao động (dịch vụ) số 3032142/2022/HĐDC/GHN từ ngày 29/6/2022 đến ngày 30/6/2023. K được Công ty bố trí làm việc tại Điểm kinh doanh (Bưu cục) số 12 (địa chỉ số A, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) và được Công ty giao nhiệm vụ cụ thể: Hàng ngày K đến Điểm kinh doanh số 12 trên nhận các đơn hàng để đi giao cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng thanh toán để giao về lại cho Công ty vào thời điểm cuối ca làm việc trong ngày; kết quả giao hàng phải được cập nhật trên phần mềm (A) giao hàng GHN-Driver được cài đặt trên điện thoại di động nhãn hiệu Vivo (không rõ model) của K.

Trong quá trình làm việc, ngày 06/7/2022, K đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên chiếm đoạt tiền giao hàng của 44 đơn hàng, cụ thể: Khoảng 07 giờ 00, ngày 06/7/2022, K đến Điểm kinh doanh số 12 gặp anh Nguyễn Minh H1 là nhân viên xử lý hàng nhận 78 đơn hàng, tổng trị giá là 33.863.050₫ (Ba mươi ba triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn không trăm năm mươi đồng) để đem giao cho những người nhận ở khu phố D, phường T, thành phố B, K đã đem giao thành công cho người nhận được tổng số 44 đơn hàng và nhận được số tiền là 21.042.500₫ (Hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng) và giao thất bại 34 đơn hàng trị giá 12.820.549đ (Mười hai triệu tám trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng). Sau khi nhận được tiền từ những người nhận hàng thì K nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 21.042.500đ (Hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng) nên K đem 34 đơn hàng chưa giao được về nhà tại địa chỉ G, tổ E, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để cất giấu nhưng trên đường về đến đoạn đường N thuộc phường T thì trời đổ mưa to, trên đoạn đường này có nhiều hố sâu và 01 bên hông giỏ đựng hàng đã bị rách nên K đã làm rơi mất 19 đơn hàng với tổng trị giá 8.420.549₫ (Tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng) và chỉ còn 15 đơn hàng trị giá 4.400.000₫ (Bốn triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) K cất giấu tại nhà. Sau đó K bỏ đi khỏi địa phương, ngắt liên lạc với Công ty và người thân trong gia đình, K sử dụng số tiền 21.042.500₫ (Hai mươi mốt triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm đồng) để tiêu xài cá nhân. Ngày 10/7/2022, K gọi điện nhờ mẹ ruột là bà Nguyễn Thị P đem 15 đơn hàng đang cất giấu tại nhà đến trả lại cho Công ty đồng thời nhờ bà P thay mình khắc phục số tiền 29.463.049₫ (Hai mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn không trăm bốn mươi chín đồng) cho Công ty; Bà P đồng ý nên đã đem 15 đơn hàng và số tiền 9.463.000₫ (Chín triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng) đến giao cho Công ty vào ngày 10/07/2022; số tiền còn lại là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) bà P đã nhờ anh Nguyễn Duy P1 (là em của K) chuyển khoản trả lại cho Công ty vào ngày 07/08/2022. Ngày 13/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Bá K để điều tra xử lý.

Vật chứng vụ án gồm 78 tài liệu liên quan đến 78 đơn hàng thể hiện thời gian giao nhận hàng, lưu hồ sơ vụ án.

Đối với các tài sản liên quan gồm chiếc điện thoại di động hiệu Vivo (không rõ model) bị hư hỏng K đã vứt bỏ và chiếc xe mô tô hiệu Yamaha RSX (không rõ biển số) K đã bán lại cho người không rõ họ tên, địa chỉ nên không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị P (là mẹ của Nguyễn Bá K) đã bồi thường cho bị hại là Công ty Cổ phần D hàng nhanh số tiền là 29.463.000₫ (Hai mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng), ông Phan Nhật Thiên A là đại diện theo ủy quyền của Công ty không có yêu cầu bồi thường đối với số tiền 49đ (Bốn mươi chín đồng).

Tại bản Cáo trạng số 132/CT-VKSBH ngày 11/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Bá K về tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm về nội dung vụ án, tội danh, khung hình phạt đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo Nguyễn Bá K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Nguyễn Bá K mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị đối với bị cáo và không có ý kiến, tranh luận gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ, kết luận giám định đủ cơ sở kết luận:

    Nguyễn Bá K là nhân viên phát triển thị trường (nhân viên giao hàng) của Công ty Cổ phần D (sau đây viết tắt là Công ty) làm việc theo chế độ hợp đồng. Ngày 06/7/2022, tại điểm kinh doanh số 12 (địa chỉ số A, tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai), Nguyễn Bá K đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô số tiến giao hàng của Công ty là 21.042.500₫ (Hai mươi mốt triệu, không trăm bốn mươi hai nghìn, năm trăm đồng), sau đó tự ý nghỉ việc thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý. Hành vi của bị cáo Nguyễn Bá K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. [3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của chủ sở hữu, gây thiệt hại về kinh tế cho Công ty Cổ phần D hàng nhanh, ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Công ty nói riêng và các Tổ chức kinh tế nói chung. Bản thân các bị cáo hoàn toàn ý thức được việc làm của mình là trái pháp luật nhưng vì vụ lợi cá nhân nên dẫn đến phạm tội nên phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
  4. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • [4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
    • [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hành phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
  5. [5] Về quyết định hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần có mức án đủ nghiêm tương xứng đối với hành vi của bị cáo gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; bản thân chưa tiền án, tiền sự, người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, việc xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đủ nghiêm.
  6. [6] Về dân sự: Công ty Cổ phần D hàng nhanh đã nhận được tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
  7. [7] Về nội dung khác:
  8. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  9. [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1] Căn cứ khoản 1, khoản 6 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá K phạm tội “Tham ô tài sản”.

    - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính bị cáo chấp hành bản án.

  2. [2] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  3. [3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

    Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. [4] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai
  • - Công an tỉnh Đồng Nai
  • - VKSND TP Biên Hoà
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục THA TP Biên Hoà;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Thanh Xuân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tham ô tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 143/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THAM Ô TS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger