Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28/5/2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Gia Lương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương

Ông Ngô Văn Bê

-Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Vân -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28/5/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/4/2025 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích D, sinh năm: 2000 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: Thôn S, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

*Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân M, sinh năm: 1998 (vắng mặt)

Nơi thường trú: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang lao động tại nước ngoài).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 04/3/2025 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích D trình bày:

Về hôn nhân: Ngày 04/11/2019 chị và anh Nguyễn Xuân M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng không có thời gian chung sống hạnh phúc nào, anh M là một người gia trưởng luôn yêu cầu chị phải đáp ứng mọi yêu cầu, thường không tôn trọng ý kiến và công sức lao động của chị, không chăm sóc vợ con nên vợ chồng thường xuyên có mâu thuẫn kéo dài, tình trạng hôn nhân trở nên trầm trọng không thể cải thiện được. Từ năm 2024 anh M đi lao động tại Đài Loan, do khoảng cách địa lý xa xôi nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau và cũng kể từ đó vợ chồng không còn quan tâm và liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân M.

Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020. Hiện nay cháu Á đang ở với chị, ly hôn chị đề nghị giao cháu Nguyễn Ngọc Á cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi cháu Á là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ khi xét xử sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do tính chất công việc nên chị không tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị và anh M, nên chị đề nghị Tòa án cho chị được vắng mặt trong các buổi làm việc, các phiên tòa xét xử tại Tòa án.

Bị đơn anh Nguyễn Xuân M hiện đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh M, đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh M.

+Toà án đã tiến hành làm việc với bà Trần Thị M1 là mẹ đẻ anh M. Bà Trần Thị M1 trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Xuân M, anh M hiện nay không có mặt tại địa phương, anh M hiện đang làm việc tại Đài Loan. Anh M ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình qua điện thoại. Về địa chỉ của anh M ở nước ngoài thì bà không được biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Chị D có đơn xin ly hôn với anh M thì quan điểm của anh M là không đồng ý ly hôn với chị D vì hai vợ chồng không xảy mâu thuẫn gì, chị D tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống.

Vợ chồng anh M và chị D có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020, trường hợp phải ly hôn thì quan điểm của anh M là đồng ý con chung cho chị D nuôi dưỡng nhưng anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung, nếu chị D không nuôi được con chung thì giao cho bà Trần Thị M1 (là mẹ đẻ anh) nuôi dưỡng và anh không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con cho anh.

Về tài sản, công nợ chung: không có.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích D vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Xuân M vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Nguyễn Thị Bích D; biên bản làm việc với bà Trần Thị M1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bích D có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Nguyễn Xuân M không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh M; Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình, xử vắng mặt anh M là đúng.

-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 51, 53, 56; Điều 81, 82, 83, 84; Điều 107, Điều 110, Điều 116, 117 và khoản 2 điều 123; điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; điều 271; điều 273; điều 150; khoản 2 điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bích D. Xử:

Về hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị Bích D được ly hôn anh Nguyễn Xuân M.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 cho chị Nguyễn Thị Bích D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Xuân M phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 cho chị D là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ khi xét xử sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Xuân M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

Về án phí: chị Nguyễn Thị Bích D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Nguyễn Xuân M phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật: chị Nguyễn Thị Bích D là nguyên đơn là người Việt Nam, hiện đang sống ở Việt Nam có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Nguyễn Xuân M. Bị đơn anh Nguyễn Xuân M là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang nhưng đang sống ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh M là bà Trần Thị M1, yêu cầu bà M1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh M ở nước ngoài nhưng bà M1 vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh M cho Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Nguyễn Xuân M hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 812/QLXNC ngày 25/3/2025 của Phòng Q-Công an tỉnh B), thì anh M đã xuất cảnh ngày 04/11/2024 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của anh M ở Việt Nam là: thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3].Về sự vắng mặt của đương sự: chị Nguyễn Thị Bích D đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Xuân M vắng mặt không có lý do. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[4]. Về Hôn nhân: chị Nguyễn Thị Bích D và anh Nguyễn Xuân M có đăng ký kết hôn ngày 04/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chị D và anh M phát sinh mâu thuẫn, chị D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh M.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích D đối với anh Nguyễn Xuân M. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị D và anh M về chung sống với nhau nhưng không có hạnh phúc nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến hôn nhân trở nên trầm trọng. Đến năm 2024 thì anh M đi nước ngoài lao động và chị D cũng về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, kể từ đó vợ chồng ít khi liên lạc với nhau và đã không còn quan tâm gì đến nhau. Xét thấy tình cảm giữa chị D và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D. Xử cho chị Nguyễn Thị Bích D được ly hôn anh Nguyễn Xuân M.

[5]. Về con chung: chị Nguyễn Thị Bích D và anh Nguyễn Xuân M có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020. Ly hôn chị D đề nghị giao con chung cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con cho chị là 2.000.000 đồng/1 tháng kể từ khi xét xử sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị D: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh M đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh Nguyễn Xuân M từ khi đi nước ngoài đến nay thì cháu Nguyễn Ngọc Á vẫn do chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, cháu được đi học đầy đủ. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bích D về nuôi con chung. Giao cho chị Nguyễn Thị Bích D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc anh Nguyễn Xuân M phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 cho chị D là 2.000.000đ/1 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Sau khi ly hôn anh Nguyễn Xuân M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

[6] .Về tài sản, công nợ: chị Nguyễn Thị Bích D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích D phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

Anh Nguyễn Xuân M phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83, 84, Điều 107, Điều 110; Điều 116, 117 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích D được ly hôn với anh Nguyễn Xuân M.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 cho chị Nguyễn Thị Bích D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Anh Nguyễn Xuân M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Xuân M phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 cho chị D là 2.000.000 đồng/1 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/5/2025) đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
  4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích D phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000461 ngày 21/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (xác nhận chị Nguyễn Thị Bích D đã nộp đủ).

    Anh Nguyễn Xuân M phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

  6. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị Bích D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

    Anh Nguyễn Xuân M hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • -Cổng thông tin điện tử TANDTC
  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã Mỹ Thái, Lạng Giang,
  • tỉnh Bắc Giang.
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Gia Lương

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 28 tháng 5 năm 2025.

Tại trụ sở TAND tỉnh Bắc Giang.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Gia L

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng P

Ông Ngô Văn B

Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 91/2025/TLST-HNGĐ 21/3/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Giữa:

*Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích D, sinh năm: 2000

Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: Thôn S, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

*Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân M, sinh năm: 1998

Nơi thường trú: Thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Hiện đang lao động tại nước ngoài).

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83, 84, Điều 107, Điều 110; Điều 116, 117 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích D được ly hôn với anh Nguyễn Xuân M.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 cho chị Nguyễn Thị Bích D là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Anh Nguyễn Xuân M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Xuân M phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 28/4/2020 cho chị D là 2.000.000 đồng/1 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28/5/2025) đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
  4. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000461 ngày 21/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (xác nhận chị Nguyễn Thị Bích D đã nộp đủ).

    Anh Nguyễn Xuân M phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

  6. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Thị Bích D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

    Anh Nguyễn Xuân M hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 28 tháng 5 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Gia Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 143/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ D - Y ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger