TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:143/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2025
V/v “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG – THÀNH PHỐ HUẾ
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Thế Vinh.
- Ông Nguyễn Văn Hóa.
– Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tôn Thất Nhật Tài – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.
– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Vang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 166/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 960/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé N, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện P, thành phố H, có mặt.
- Bị đơn: Ông Huỳnh C, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn D, xã P, huyện P, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/11/2024, bản tự khai ngày 06/01/2025, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của bà Lê Thị Bé N tại phiên tòa, đã xác định như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bé N và ông Huỳnh C tìm hiểu nhau được một thời gian ngắn, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P vào ngày 14/11/2000 và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn D, xã P, huyện P. Đến đầu năm 2024 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Ngoài ra, do ông C có mối quan hệ ngoài vợ chồng với người phụ nữ khác làm cho mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Mặc dù còn chung sống cùng một nhà nhưng vợ chồng không còn nói chuyện và chăm sóc đến nhau nữa, mỗi người đều có một cuộc sống riêng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Bé N xin được ly hôn với ông Huỳnh Cương.
- Về con chung: Bà Lê Thị Bé N trình bày vợ chồng có 03 con chung là Huỳnh C1, sinh ngày 25/10/1998; Huỳnh P, sinh ngày 03/6/2006 và Huỳnh Thị Minh T, sinh ngày 13/9/2011. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Thị Minh T và yêu ông C đóng tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Tuy nhiên ông C chỉ đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi cháu T 1 tháng 1.000.000 đồng thì bà cũng đồng ý. Hiện nay cháu T đang ở với bà N.
Đối với 02 người con Huỳnh C1 và Huỳnh P hiện nay đã trưởng thành, đủ 18 tuổi nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Bé N trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 03 tháng 4 năm 2025, bị đơn ông Huỳnh C trình bày ý kiến như sau: Quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân như lời bà N trình bày là đúng với thực tế. Bản thân ông không đồng ý ly hôn với bà N. Tuy nhiên nếu bà N kiên quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Ông Huỳnh C trình bày vợ chồng có 03 con chung như bà Ngọc K. Khi ly hôn ông C đồng ý giao con chung là Huỳnh Thị Minh T, sinh ngày 13/9/2011 cho bà N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Mỗi tháng ông C sẽ cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà N là 1.000.000 đồng.
Đối với 02 người con Huỳnh C1 và Huỳnh P hiện nay đã trưởng thành, đủ 18 tuổi nên ông C không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con và cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Ông Huỳnh C yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn là nhà và đất tại thôn D, xã P, huyện P, thành phố H.
Về nợ chung: Ông Huỳnh C yêu cầu chia nợ chung là số tiền 20.000.000 đồng còn nợ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện P.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật để ông Huỳnh C thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng ông C vẫn vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thị Bé N. Xử cho bà Lê Thị Bé N được ly hôn với ông Huỳnh Cương.
- Về con chung: Giao con chung Huỳnh Thị Minh T, sinh ngày 13/9/2011 cho bà Lê Thị Bé N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T. Hiện nay cháu T đang ở với bà N. Buộc ông Huỳnh C phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Huỳnh Thị Minh T một tháng là 1.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu T trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Đối với 02 người con Huỳnh C1 và Huỳnh P hiện nay đã trưởng thành, đủ 18 tuổi các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn ông C có yêu cầu chia tài sản chung là đất và nhà tại thôn D, xã P, huyện P, thành phố H và nợ chung tại Ngân hàng nhưng ông C không cung cấp đơn yêu cầu và các chứng cứ, tài liệu liệu kèm theo nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc bà Lê Thị Bé N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Buộc ông C phải chịu án phí cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh C đang cư trú tại địa chỉ: thôn D, xã P, huyện P, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Huỳnh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bé N và ông Huỳnh C chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Bé N thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà N, ông C, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Mặc dù vợ chồng còn chung sống trong một nhà nhưng không còn quan tâm và chăm sóc đến nhau nữa. Từ khi bà N có đơn xin ly hôn, phía Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông C trình bày ý kiến theo yêu cầu khởi kiện của bà N nhằm mục đích hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông C không đến để hòa giải. Bản thân ông C không muốn ly hôn với bà N nhưng nếu bà N kiên quyết ly hôn thì ông V đồng ý ly hôn, chứng tỏ ông C đã bỏ mặc hôn nhân và không có giải pháp hàn gắn. Nhận thấy mâu thuẫn trong hôn nhân giữa bà Lê Thị Bé N và ông Huỳnh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc, quý trọng nhau. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Lê Thị Bé N được ly hôn với ông Huỳnh C là phù hợp pháp luật.
[3] Về con chung: Bà Lê Thị Bé N và ông Huỳnh C khai vợ chồng có 03 con chung là Huỳnh C1, sinh ngày 25/10/1998; Huỳnh P, sinh ngày 03/6/2006 và Huỳnh Thị Minh T, sinh ngày 13/9/2011. Hiện nay cháu T đang ở với bà N. Xét thấy nguyện vọng của cháu T muốn ở với mẹ, bản thân ông C cũng đồng ý giao cháu T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu T, cần giao cho bà Lê Thị Bé N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Thị Minh T cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Đối với 02 người con Huỳnh C1 và Huỳnh P hiện nay đã trưởng thành, đủ 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Ông Huỳnh C đồng ý mức cấp dưỡng tiền nuôi cháu T một tháng 1.000.000 đồng thì bà Lê Thị Bé N cũng đồng ý với mức cấp dưỡng này nên cần buộc ông Huỳnh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi cháu T 1 tháng 1.000.000 (một triệu) đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu T trưởng thành là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Bé N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên ông Huỳnh C có yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là đất và nhà tại thôn D, xã P, huyện P, thành phố H và yêu cầu giải quyết về số nợ tại Ngân hàng N chi nhánh huyện P. Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ để ông Huỳnh C chứng minh về tài sản chung và khoản nợ chung để có căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn quy định nhưng ông Huỳnh C không cung cấp đơn khởi kiện cũng như các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Vì vậy Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét giải quyết. Trường hợp sau này ông Huỳnh C có yêu cầu về việc chia tài sản chung hoặc nợ chung thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Bà Lê Thị Bé N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; Ông Huỳnh C phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị Bé N, xử cho bà Lê Thị Bé N được ly hôn với ông Huỳnh Cương. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Xử giao con chung Huỳnh Thị Minh T, sinh ngày 13/9/2011 cho bà Lê Thị Bé N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T. Hiện nay cháu T đang ở với bà N. Buộc ông Huỳnh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi cháu Huỳnh Thị Minh T một tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Huỳnh Thị Minh T trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bà Lê Thị Bé N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Huỳnh C chưa thi hành án số tiền cấp dưỡng nuôi con nêu trên, thì ông Huỳnh C phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả và phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Đối với 02 người con Huỳnh C1 và Huỳnh P hiện nay đã trưởng thành, đủ 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Bé N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004527 ngày 12/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang, thành phố H. Bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm; Ông Huỳnh C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án sơ thẩm xét xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuý Hồng |
Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG – THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 143/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG – THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
