|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG Bản án số: 143/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-12-2025 V/v tranh chấp ly hôn, con chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Năng
- Bà Mai Thị Thu Hà
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào- là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10- An Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- An Giang tham gia phiên tòa: không tham gia
Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 320/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 7 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1986. ĐT: 0338.018.xxx
Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 19/8/2022
HKTT: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang
-Bị đơn: Anh Võ Minh H, sinh năm: 1987. ĐT: 0962.094.xxx
Số căn cước công dân: ...... cấp ngày ......
HKTT: ấp V, xã V, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 18/9/2025, biên bản hòa giải và lời khai tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ú trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Minh H tiến tới hôn nhân vào năm 2016, hôn nhân do tự nguyện, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã V, huyện C tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau này thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Minh H.
-Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Anh T, sinh năm: 2016. Hiện con đang sống với chị. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
-Về tài sản và nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Võ Minh H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Võ Minh H vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ú. Qua thông tin nơi cư trú thì anh Võ Minh H hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ấp V, xã V, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung vụ án:
[1.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ú và anh Võ Minh H tiến tới hôn nhân vào năm 2016, hôn nhân do tự nguyện, có tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã V, huyện C tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo như phần trình bày của chị Ú yêu cầu ly hôn là do nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Minh H. Xét thấy với thời gian ngắn chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng sống ly thân và chị Ú yêu cầu ly hôn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh Võ Minh H cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị Ú. Hiện tại chị Ú xác định không còn tình cảm với anh H. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Ú cũng giữ nguyên phần trình bày trong đơn là chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị Nguyễn Thị Ú và anh Võ Minh H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ú là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[1.2]Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Anh T, sinh năm: 2016. Hiện con đang sống với chị Ú. Sau ly hôn chị yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy cháu Thư từ nhỏ và hiện tại đang sống với chị Ú, hiện tại cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó để ổn định cuộc sống của cháu T, nghĩ nên để chị Ú được nuôi cháu T là phù hợp, anh H không cấp dưỡng nuôi con do chị Ú không yêu cầu. Chị Ú phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh thực hiện quyền này.
[1.3]Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ú trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2]Về án phí: Do yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ú được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điều 9, 53, 56,58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ú. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ú và anh Võ Minh H.
2.Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Anh T, sinh năm: 2016. Hiện con đang sống với chị. Sau ly hôn chị Nguyễn Thị Ú được tiếp tục nuôi cháu Võ Thị Anh T, anh H không cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Ú phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.
3.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Ú phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005122 ngày 20/10/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
4.Về kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ú và anh Võ Minh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
5.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Những người tham gia tố tụng (để thi hành); - TAND tỉnh; - VKSND Khu vực 10; - Phòng THA.DS Khu vực 10- An Giang; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ. |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Dung |
Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 143/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10- AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Út. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Út và anh Võ Minh Hùng. 2.Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Thị Anh Thư, sinh năm: 2016. Hiện con đang sống với chị. Sau ly hôn chị Nguyễn Thị Út được tiếp tục nuôi cháu Võ Thị Anh Thư, anh Hùng không cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Út phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh Hùng được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này. 3.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Út phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005122 ngày 20/10/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
