Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08/4/2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Quế Anh, ông Võ Duy Bảo

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 08/4/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 557/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/11/2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1974. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: số B, đoan B, đường C, quận W, thành phố T, Đài Loan. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1985. Địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1965. Địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/5/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Quốc V đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 09/02/2010 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hanh phúc. Năm 2017, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Đến năm 2019, chị Nguyễn Thị T phải đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Trong quá trình chị T sinh sống và làm việc tại Đài Loan, các mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T và anh V bất đồng quan điểm sống, tính cách của hai vợ chồng không thể hòa hợp,

không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu, khoảng cách địa lý xa xôi gây khó khăn cho cả hai bên khi giải quyết công việc gia đình khiến cho cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bế tắc, không có cách nào giải quyết. Mặc dù chị T và anh V đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả, điều này ảnh hưởng đến cuộc sống của vợ chồng và con cái. Nay, chị Nguyễn Thị T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.

Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Lê Anh T2, sinh ngày 22/9/2009. Hiện, cháu Anh T2 đang sống cùng bố Nguyễn Quốc V và bà nội là Lê Thị T1 tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Nếu vợ chồng ly hôn, nguyện vọng của chị T là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Anh T2 và không yêu cầu anh V cấp dưỡng. Trong thời gian chị T đang ở nước ngoài thì chị T tiếp tục nhờ bà nội là bà Lê Thị T1 nuôi dưỡng cháu cho đến khi chị T về nước. Trường hợp Tòa án giao con cho anh V trực tiếp chăm sóc thì chị T tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Quốc V, bà Lê Thị T1, cháu Nguyễn Lê Anh T2: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và trực tiếp làm việc với anh V, bà T1, cháu Anh T2 nhưng anh V, bà T1 và cháu Anh T2 không hợp tác nên không làm việc được.

Kết quả xác minh của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thể hiện: anh Nguyễn Quốc V là chồng của chị Nguyễn Thị T, anh V hiện là lao động tự do tại địa phương. Anh V, chị T có một người con chúng là cháu Nguyễn Lê Anh T2 hiện đang sống cùng anh V và bà Lê Thị T1 (mẹ đẻ của anh V). Cháu Nguyễn Lê Anh T2 học hành ổn định, tâm sinh lý phát triển bình thường, được bố và bà chăm sóc chu đáo, đầy đủ. Gia đình anh Nguyễn Quốc V chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách tại địa phương.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Trong vụ án này, tuy hiện tại chưa có lời khai của anh V nhưng đã có căn cứ bị đơn biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị T nhưng bị đơn vẫn không cung cấp lời khai cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên có cơ sở xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Quốc V. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Lê Anh T2 cho anh Nguyễn Quốc V chăm sóc, nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Anh V có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về công sức nuôi dưỡng cháu T2, bà trị chưa có ý kiến nên không xem xét. Bà T1 có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí nuôi và chăm sóc cháu Anh T2 bằng vụ án khác. Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn chị Nguyễn Thị T hiện đang ở nước ngoài, không có điều kiện về Việt Nam để trực tiếp giải quyết vụ án nên đã có văn bản trình bày ý kiến gửi về cho Tòa án và có đề nghị xét xử vắng mặt. Văn bản của chị Nguyễn Thị T gửi về có xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Bị đơn anh Nguyễn Quốc V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1 hiện đang cư trú tại Việt Nam được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Quốc V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2019, chị Nguyễn Thị T đi làm việc tại Đài Loan.Vợ chồng không còn liên lạc, quan tâm đến nhau nữa. Nay, chị Nguyễn Thị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V. Đối với anh Nguyễn Quốc V, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh V, yêu cầu anh V gửi ý kiến trình bày cho Tòa án nhưng Tòa án không nhận được phản hồi, ý kiến của anh V về việc hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Do đó, thấy rằng, tình cảm vợ chồng của chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Quốc V đã rạn nứt, không thể hàn gắn được. Hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Quốc V có một con chung là cháu Nguyễn Lê Anh T2, sinh ngày 22/9/2009. Hiện cháu Anh T2 đang sống cùng bố Nguyễn Quốc V và bà nội là Lê Thị T1, tại xóm H, xã N, huyện N,

tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Trong thời gian chị T đang ở nước ngoài thì chị T tiếp tục nhờ bà nội là bà Lê Thị T1 nuôi dưỡng cháu cho đến khi chị T về nước. Trường hợp Tòa án giao con cho anh V trực tiếp chăm sóc thì chị T tự nguyện cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng. Xét thấy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì quyền và nghĩa vụ nuôi con thuộc về cha mẹ. Hiện nay, chị Nguyễn Thị T đang ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; cháu Nguyễn Lê Anh T2 đang sinh sống cùng anh Nguyễn Quốc V nên cần giao con chung cho anh Nguyễn Quốc V nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị T đồng ý cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng. Anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình trốn tránh nên Tòa án không lấy được lời khai của anh V để làm rõ bị đơn có yêu cầu như thế nào về chi phí cấp dưỡng nuôi con nên cần chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T. Trường hợp anh Nguyễn Quốc V có ý kiến khác thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Quốc V không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[5] Bà Lê Thị T1 là người trực tiếp chăm sóc cháu Nguyễn Lê Anh T2 cùng với anh Nguyễn Quốc V. Bà Lê Thị T1 chưa có ý kiến gì về chi phí chăm sóc cháu nên Tòa án chưa có cơ sở xem xét. Bà T1 có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí nuôi và chăm sóc cháu Anh T2 bằng vụ án khác.

[6] Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc V.

2. Về con chung: giao con chung Nguyễn Lê Anh T2, sinh ngày 22/9/2009 cho anh Nguyễn Quốc V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị T về

việc chị T cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 04/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Lê Anh T2 đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh V có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Quốc V không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4. Bà T1 có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về chi phí nuôi và chăm sóc cháu Anh T2 bằng vụ án khác.

5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

6. Án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013561 ngày 26/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An (bà Lô Thị Lan H nôp thay).

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

8. Anh Nguyễn Quốc V, bà Lê Thị T1 có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Chị Nguyễn Thị T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc;
  • - Lưu HSVA-VP-Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒÀ

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quế Anh Võ Duy B

Nguyễn Thị Thu T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 143/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN Nguyễn Thị T - Nguyễn Quốc V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger