Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02/4/2025.

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Phạm Thị Mai Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Đức Hạnh.
Bà Dương Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1982;
  2. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư D, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1982;
  4. Địa chỉ: Số nhà H đường Q, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai chị Lê Thị N, trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là phường P), thị xã K vào ngày 23/07/2010. Sau khi kết hôn chị và anh T về chung sống cùng với nhau một thời gian ngắn thì vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, luôn có tính cách trái ngược nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Năm 2014, chị đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng xa cách nên không chia sẻ với nhau về tình cảm, quan điểm chung về nuôi dạy con cái. Vợ chồng chị đã ly thân từ lâu nên tình cảm vợ chồng kông còn, không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Văn T để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Phạm Huy H, sinh ngày 24/6/2011. Khi ly hôn chị có nguyện vọng tiếp tục giao con chung là cháu Phạm Huy H cho anh Phạm Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi lời khai, anh Phạm Văn T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung như chị N trình bày. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N, anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Huy H, sinh ngày 24/6/2011 đến khi con chung thành niên. Anh tự nguyện không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường P thể hiện: Chị N và anh T kết hôn hợp pháp và có đăng ký tại địa phương. Sau khi kết hôn một thời gian, chị N đi lao động ở nước ngoài. Do hoàn cảnh gia đình mỗi người ở một nơi không hòa hợp trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn. Nay chị N có đơn ly hôn anh T, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh T vắng mặt.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Lê Thị N được ly hôn anh Phạm Văn T; Về con chung: Giao cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Phạm Huy H, sinh ngày 24/6/2011 cho đến khi thành niên; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Lê Thị N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Phạm Văn T. Chị N hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa, chị N, anh T vắng mặt và đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, anh T.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Phạm Văn T được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P (nay là phường P), thị xã K vào ngày 23/07/2010 nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị N và anh T về chung sống cùng với nhau một thời gian ngắn thì vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, luôn có tính cách trái ngược nhau, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, to tiếng. Năm 2014, chị N đi lao động tại Đài Loan, từ đó đến nay vợ chồng sống lý thân, không còn quan tâm chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Chị N xác định không còn tình cảm với anh T và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy: Vợ chồng chị N, anh T đã ly thân từ lâu, vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Chị N về Việt Nam nhưng không về chung sống cùng anh T. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy cần chấp nhận cho chị N được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị N và anh T có 01 con chung là Phạm Huy H, sinh ngày 24/6/2011. Chị N có quan điểm khi ly hôn đề nghị tiếp tục giao con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T có quan điểm nhất trí. Xét thấy, con chung hiện đang ở cùng anh T và có nguyện vọng khi bố mẹ ly hôn thì ở với bố. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cho con chung chưa thành niên, Hội đồng xét xử giao cho anh Phạm Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Huy H. Chấp nhận sự tự nguyên của anh T không yêu cầu chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh T không đề nghị giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị N ly hôn với anh Phạm Văn T.
  2. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Phạm Huy H, sinh ngày 24/6/2011 thười gian từ tháng 4/2025 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Phạm Văn T không yêu cầu chị Lê Thị N phải cấp dưỡng cho con.
  3. Chị Lê Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001655 ngày 24/02/2025.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị Lê Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Phạm Thái, TX. Kinh Môn (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 143/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger